Chả dại gì em ước nó bằng vàng

by Rose & Cactus

1.

Có một cây mai vàng nằm nép bên bờ tường của một ngôi nhà cổ ở góc khu chợ xép. Nó có vẻ ngoài bình thường đến nỗi trong suốt một năm gần như không ai trong số những người mà thường xuyên dọc ngang qua khu chợ này, để ý đến sự tồn tại của nó.

Chỉ đến khi mùa Xuân đến, khi những cơn mưa xối xả của mùa hạ đã chấm dứt hẳn, khi ngày đã ngắn bởi những tia nắng hanh hao mà lười biếng, chúng chẳng thích đùa nghịch lâu chốn dương gian mà hay đi ngủ sớm,

thì người ta mới thấy cái cây như lột xác. Những chiếc lá xanh tươi với những hình thù giống như bao chiếc lá khác đột nhiên biến đi đâu hết cả, để nhường chỗ cho vô vàn chiếc nụ nhỏ xinh  chạy dọc theo những cành khẳng khiu. Những cái cành như đang cố gắng vươn cao lên, cao mãi qua mép tường, chìa cả ra con đường nhỏ.

Những cơn gió dịu dàng của mùa Xuân thổi qua cành cây, thì thầm với chúng những lời ngọt ngào của mùa.  Một ngày, hai ngày, rồi một tuần hai tuần những nụ hoa như cảm động trước sự quan tâm của gió. Chúng đồng loạt hé môi cười, cả ngàn những cánh hoa mỏng manh, mịn màng như nhung bung nở nói lời chào với nắng, với gió, với vạn vật muôn loài của mùa Xuân.

Chẳng mấy chốc, sắc vàng đã nhuộm sáng cả không gian xám xịt quanh nó, mái ngói rêu phong, cánh cổng rêu phong và những viên đá trên vỉa hè dưới tán cây đượm vẻ cũ kỹ rêu phong.  

“Chúng tôi có thể đếm được số lượng hạt đậu đen trộn với đậu đỏ ở cái sàng của cô Tấm chứ không thể biết được có bao nhiêu cánh hoa ở rừng cây này”. Lũ sẻ nhỏ chuyền cành ríu rít với nhau như thế.

“Chúng tôi thì rõ là không muốn đếm đâu. Vì chúng tôi còn bận hút mật ngọt từ những nhụy hoa này. Ôi cái mùi hương mới quyến rũ làm sao!”  Bọn ong lại thì thầm trong tiếng vo ve  của đôi cánh. Chúng nói với nhau nhỏ lắm, như thể e ngại những chủng loài khác nếu nghe được sẽ ghen tị với những đặc ân mà những bông hoa mang lại chỉ cho riêng chúng

“Giá quanh năm hoa mai rực rỡ thế này thì tuyệt biết bao!” Hai cô cậu học sinh trên đường đi học về đứng dưới tán hoa mai chụp vội một kiểu hình, trầm trồ một lúc và rồi lại lướt đi. Đó là lúc hoàng hôn, nắng đã tắt nhưng lại xuất hiện một mặt trời thứ hai ở ngay thân cây già mai già.

Bây giờ thì đã là bình minh của một ngày khác. Dưới tán mai, có một gánh hàng bán hải sản của một người phụ nữ gày gò có mái tóc đã điểm những sợi bạc. Cô luôn ngồi đó từ sớm với vài cái chậu nhôm méo mó, cái đựng những con cá rô đồng thân mình tròn lẳn, cái chứa những con tôm tươi rói vẫn nhảy tanh tách.

Vài cái khay nhựa, khay này có những chú cá lóc trơn tuột cứ cố trườn mình ra ngoài mép nhưng bất lực; khay kia lại là nơi những chú cua to vật mà những cái càng to khỏe bất trị của chúng đã bị vô hiệu bằng những sợi dây buộc.

Lại có cả một cái chậu thật to, thật nhiều nước nơi luôn có một đàn cá chép tung tăng bơi lội.

Một làn gió lướt qua, nhẹ nhàng bứt những cánh mai cuối mùa đã nhạt màu, ra khỏi ngôi nhà của nó. Từng chùm sóng vàng rơi lả tả xuống mặt nước vẩn đục trong chiếc chậu. Đàn cá chép bỗng im bặt, chúng ngước những đôi mắt thơ ngây nhìn những cánh hoa như những vật thể lạ từ đâu tới.

Một lúc, chúng há miệng kéo những cánh hoa lại gần mình hơn. Những tia nắng biến mất,

Mùa Xuân đang trôi qua!

Và những cơn gió mùa Xuân, thứ gió được tạo ra bởi năng lượng của nguyên tố mộc, vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình của nó, từ nơi này sang nơi kia, từ trạng thái này sang trạng thái khác.

Khi gió lướt trên đồng cỏ, cỏ rạp xuống như sóng gợn; khi gió lướt trên đồng lúa, lúa nhấp nhô như biển cả. Hãy nghe gió kể chuyện. Tiếng ca của gió khi gió rung chuyển cây cối trong rừng không giống lúc gió lùa vào các khe và lỗ thủng trên tường thành. Hãy nhìn lên trên cao kia, gió đang lùa mây như lùa một đàn cừu. Bạn có thể nghe thấy tiếng gió như tiếng gió rít qua cổng cái không?

Nghe như tiếng kèn của người gác đêm vậy. Giờ thì gió lọt qua ống khói vào lò sưởi. Lửa bùng lên, nổ tí tách, chiếu sáng cả gian phòng. Ngồi trầm tĩnh ở nơi ấy nghe tiếng gió thổi thì thú biết bao! À! Gió có thể kể cho bạn nghe những truyện phiêu lưu và truyện cổ tích nữa đấy! Gió còn biết nhiều hơn tất cả chúng ta kia! Hãy nghe gió reo: “Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua! Mọi việc trôi qua!”. Đó là điệp khúc bài ca của gió.

Gió kể:

Câu chuyện về Waldemar Daa và các cô con gái

(Hans Christian Andersen)

………………………………………

(1)

Đông qua, hạ tới. Các mùa nối tiếp nhau như gió thoảng qua. Tuyết tan, hoa táo nở, lá vàng lại rụng.

Tất cả đều trôi qua. Đời người cũng vậy. Các cô con gái Vanđơma hãy còn trẻ măng. Nàng Iđa mơn mởn như một bông hồng, vẫn đẹp như lúc anh chàng đóng tàu phải lòng nàng. Có lúc ta thổi vào bộ tóc màu hạt dẻ của nàng khi nàng ngồi trầm ngâm dưới gốc táo trong vườn; ta rũ tóc nàng ra và phủ đầy hoa lên. Qua hàng cây, nàng đang ngắm vầng thái dương đỏ sẫm và chân trời màu vàng.

Gian, cô em nàng, tựa như bông huệ tươi tắn và thanh tú; nhưng điệu bộ nàng cứng nhắc, kiêu kì, giống như mẹ nàng.

Nàng hay vào gian phòng lớn, nơi treo những bức chân dung của gia đình. Các bà trong tranh ăn vận toàn nhung và lụa, trên bộ tóc xõa úp một chiếc mũ nạm ngọc. Các bà nom thật có duyên! Các ông chồng thì phủ đầy giáp thép hoặc áo choàng lông loại sang nhất.

Các ông không đeo gươm bên sườn mà lại đeo bên đùi. Một ngày kia chân dung của Gian treo ở đâu nhỉ? Và người chồng quý phái của nàng diện mạo sẽ ra sao? Nàng nghĩ ngợi nhiều đến chuyện đó. Nàng lẩm bẩm một mình. Ta bay theo nàng suốt dọc hành lang dài đi tới gian phòng lớn nên ta nghe thấy hết.

Anơ Đôrôtê, như một đoá dạ hương xanh nhạt là một cô bé mười bốn tuổi. Tính nàng trầm lặng và chín chắn. Nàng có cặp mắt to, xanh tựa làn sóng, bao giờ cũng mơ màng; một nụ cười tươi tắn luôn luôn nở trên môi nàng. Ta không thể nào thổi mất nụ cười ấy đi, vả chăng ta cũng không muốn làm việc ấy.

Ta thường gặp nàng trong vườn hay trên đồng nội. Nàng hái hoa và bứt cỏ, những loại hoa cỏ mà cha nàng có thể nấu thành thuốc. Vanđơma là người cứng rắn và kiêu ngạo, nhưng rất thông thái. Mọi người đều thấy thế và thường bàn tán về ông ta. Ngay trong mùa hè ông cũng đốt lò. Cửa buồng ông đóng kín mít.

Cả ngày lẫn đêm ông ở trong ấy và chẳng bao giờ nói với ai công viêc của ông. Trong sự yên tĩnh con người mới nghiên cứu được những bí hiểm của thiên nhiên. Ông lại muốn tìm ra vật quý báu nhất trên đời, ấy là vàng đỏ.

Chính vì thế mà khói luôn luôn nhả trên ống khói của lâu đài. Chính vì thế mà trong buồng Vanđơma lúc nào cũng có những ngọn lửa và tia lửa từ trong lò phụt ra. Ta biết, vì ta có mặt ở nơi ấy! – Gió nói tiếp. Mọi vật trôi qua, trôi qua! Ta rít lên trong ống khói. Mọi vật sẽ phải biến thành than, tro và sẽ tan ra thành khói. Ngay cả Vanđơma nữa rồi cũng bị cháy tan ra thành khói thôi! Vi vu, vi vu… Mọi vật trôi qua! Nhưng Vanđơma vẫn ngồi yên không động đậy.

Những con ngựa oai phong trong chuồng biến đâu cả rồi nhỉ? Tất cả vàng bạc, súc vật, trang trại, lâu đài biến đi đâu rồi nhỉ? Than ôi, chúng chảy thành nước cả rồi, chảy tan trong chiếc nồi nấu vàng, nhưng chẳng nấu ra tí vàng nào cả.

Chẳng còn chút gì trong các ngăn tủ và trong kho lúa. Người hầu thì giảm đi mà chuột nhắt thì tăng lên. Một mảnh kính cửa sổ nứt, rồi thêm mảnh nữa vỡ tan tành; ta chẳng còn cần phải vào lối cửa lớn nữa!

Ta thổi thấu khắp lâu đài như người gác đêm thổi tù và. Nói thế thôi chứ người gác đêm cũng chẳng còn nữa. Ta làm quay chiếc chong chóng trên chòi canh, chong chóng rít lên như tiếng ngáy của người gác đêm trước kia. Bữa ăn của chủ nhà cũng trở nên rất đạm bạc. Cửa lớn đã bật tung ra khỏi ngõng. Ta ra vào tự do nên trông thấy rõ tất cả.

Sống giữa khói than và tro bụi, qua bao lo âu và nhiều đêm không ngủ, râu tóc Vanđơma đã ngả thành màu xám, nước da tái nhợt, nhưng đôi mắt của Vanđơma vẫn ánh lên một niềm hy vọng, vì ông ta thèm khát chế ra vàng.

Ta thổi hắt khói và than vào mặt vào râu ông ta. Lão già khốn khổ! Không phải là vàng mà là những món nợ lão tìm thấy trong chiếc nồi nấu vàng. Còn ta, ta ca hát qua những tấm kính vỡ và khe tường. Ta thổi vào tận tủ của các cô con gái, nơi treo những tấm áo đẹp trước kia, giờ đã rách gần hết. Khi còn trẻ con chẳng bao giờ các nàng được nghe bên nôi bài hát cổ: “Cuộc đời những người quyền quý là một cuộc đời đầy phiền muộn”.

Chẳng còn củi để đốt mà cũng chẳng còn rừng mà lấy củi nữa. Băng giá trắng toát, vỡ lạo sạo dưới chân. Ta luồn qua hàng hiên, qua các khe kẽ. Ta thấy các nàng con gái của Vanđơma nằm trong giường để cho đỡ rét. Còn Vanđơma thì đắp lên người một tấm da. Chẳng còn gì ăn, chẳng còn gì để sưởi nữa! Cuộc đời một vị quý tộc phá sản là như thế đấy! Vi vu, vi vu… mọi việc trôi qua! Ta thét lên. Nhưng Vanđơma vẫn không cựa quậy.

“Đông qua, rồi mùa xuân sẽ tới, lão nói. Sau cơn bĩ cực tới tuần thái lai. Lâu đài đã cầm cố rồi, thế là hết! Không! Ta sẽ có vô số vàng; hãy gắng chịu đựng đến ngày lễ Phục sinh”.

Sáng ngày lễ Phục sinh, tiếng chuông nhà thờ vang lên. Vầng thái dương làm tươi vui hẳn bầu trời. Trong cơn lo lắng đến phát sốt lên, Vanđơma đã thức thâu đêm, nấu chảy rồi để nguội, pha trộn, rồi gạn chắt. Ta nghe thấy lão thở dài như một tâm hồn đang đau khổ, rồi lão lại cầu nguyện, nín thở. Đèn đã tắt ngúm mà lão cũng chẳng để ý gì đến cả. Ta thổi vào đám củi tàn; ánh lửa soi sáng bộ mặt lão, trắng bệch như vôi. Mắt lão sâu hoắm, trợn tròn, to ra, to mãi như muốn bật ra ngoài.

“Vàng đây rồi! Lão reo lên. Nó lấp lánh, đặc sệt và tinh khiết biết bao!”. Lão nhấc bình thuỷ tinh đựng nước luyện kim lên, tay run run, mồm lắp bắp: “Vàng! Vàng!”. Lão choáng váng, chỉ thổi khẽ thôi ta cũng có thể xô lão ngã; nhưng ta chỉ thổi vào đám than hồng đỏ rực, rồi ta theo lão vào phòng các cô con gái đang rét cầm cập.

Quần áo, râu tóc lão phủ đầy tro bụi. Lão đứng vươn cao giữa phòng, giơ cao bình thuỷ tinh và hét lên: “Chế ra vàng rồi!”. Thuỷ tinh lấp lánh trong ánh mặt trời. Tay lão run lên. Chiếc bình rơi xuống đất vỡ tan thành muôn mảnh. Thế là đi đời niềm hy vọng cuối cùng của Vanđơma. Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua, trôi qua! Thế là ta ra khỏi lâu đài của kẻ tìm vàng.

Vào những ngày ngắn ngủi cuối năm ở phương Bắc, sương sáng đọng hạt trên những quả bạc màu đỏ và trên những cành cây trụi lá, ta lại trở lại vui vẻ; ta tẩy sạch bầu trời bằng hơi thở của ta và làm gãy vài cành cây, công việc thường phải làm, chẳng có gì là nặng nhọc lắm.

Ở lâu đài Bôrơby, Ovơ Ramen, chủ nợ của Vanđơma đang ngồi ở đấy với bản khế ước cầm cố gia sản và lâu đài của Vanđơma. Ta gõ nhịp vào những tấm kính vỡ, làm đập các tấm cửa sắt han rỉ, rít qua các lỗ và các khe cửa. Vi vu, vi vu… Ovơ Ramen có lẽ không thích ở đây lắm.

Iđa và Anơ-Đôrôtê oà lên khóc. Gian ngồi cắn ngón tay, cứng nhắc và xanh xao. Ovơ Ramen mời Vanđơma ở lại suốt đời ở lâu đài, nhưng việc ấy đề ra chẳng được một lời cảm ơn của Vanđơma. Ta thấy Vanđơma ngửng đầu lên, kiêu hãnh hơn bao giờ hết. Ta bèn tỏ ý thán phục bằng cách thổi mạnh vào lâu đài, vào rặng cây bồ đề, mạnh đến nỗi một cành to, không bị mục nát, cũng gẫy tan ra, rơi xuống trước cửa.

Hôm ấy là một ngày nặng nề, một bước gian nan phải vượt qua, nhưng Vanđơma đã tỏ ra can đảm và kiêu hãnh.

Họ chỉ còn quần áo mặc trên người và một bình thuỷ tinh mới mua đựng nước luyện kim vét dưới đất, thứ nước quý báu hứa hẹn nhiều, nhưng thực tế chẳng đem lại kết quả gì. Lão chúa đất, trước kia giàu có biết bao, nay ôm chặt cái bình trước ngực, một tay cầm gậy, cùng các con ra khỏi lâu đài Bôrơby.

Ta thổi hơi lạnh buốt vào đôi má nóng rực, lay chòm râu xám và bộ tóc bạc của lão. Ta hát như mọi khi! Vi vu, vi vu… Mọi việc trôi qua, trôi qua! Thế là hết hạnh phúc.

Iđa và Anơ-Đôrôtê đi cạnh lão. Gian, trước khi đi theo chị và em, ngập ngừng một lát, rồi bỗng quay lại ngưỡng cửa. Nàng ngắm nghía những viên đá đỏ trên tường thành, mang từ lâu đài Máctít về, và nàng liên tuởng đến các cô con gái đã sống trong lâu đài ấy.

Nàng cả cầm tay nàng út
Và cả hai ra đi khắp thế gian.

Phải chăng nàng nghĩ tới bài hát ấy? Ngày nay, các nàng gồm ba người và thêm cả ông bố cùng đi.

…………………………………………………………..

 

2.

Gió dừng lại bên một ngôi biệt thự đẹp đẽ, có kiểu dáng hiện đại ngay gần khu chợ. Bóng tối đã bao trùm con đường nhưng ngôi biệt thự vẫn hiện lên trong dáng vẻ kiều diễm kiêu sa vì hàng trăm những bóng đèn kiểu cách được gắn dọc trên những bức tường rào. Ánh sàng vàng ấm áp mà lại trong trẻo như pha lê của nó khác chi những cánh hoa mai đầu phố bên kia, làm bừng sáng cả con đường và căn nhà lớn.

Trong khí trời se lạnh, gió nghe tiếng  phanh két. Một chiếc xe đạp dừng lại bên vệ đường:

-Chào cô Daisy, sao tối rồi mà cô vẫn ngồi ở đây thế?

-Ồ, chào cháu Jack. Cô đang ngắm những chiếc đèn để đưa vào cuốn sách cô đang viết, phải mục sở thị cho nó chân thực :)). Thế còn cháu, mai thi giữa kỳ rồi sao giờ này vẫn lang thang ngoài đường thế này? :))

-Cháu vừa từ nhà thằng Leo về. Khổ quá cô ơi, cái máu kinh doanh lại có dịp sôi sục khiến cháu không thể ngồi im được dù mai có là ngày thi của các quái vật :))

-Chuyện gì nữa đây ?

-Dạo này cô có theo dõi tin tức trên kênh Ci en en  nữa không? Ngài Nam Trung đã trở lại rồi đó, cô chả từng kêu kênh này kém thú vị hơn hẳn khi thiếu vắng Ngài còn gì :)). Chả thế, vì sắp tới đây thôi Ngài và trợ tá của Ngài sẽ xuất hiện ở cửa hang và  sẽ lại hô vang câu thần chú huyền thoại: Vàng ơi, mở cửa ra :)). Các ngài sẽ thực hiện một việc làm lịch sử chưa từng có tiền lệ, là kiểm kê số lượng vàng trong kho dự trữ vàng lớn nhất của nước Mỹ. Cụ thể, tổng lượng vàng trong kho dự trữ của chính phủ Mỹ là 8.133,46 tấn, chả biết năm tháng qua đi chúng có hao hụt tẹo nào không :)). Khiếp quá, nghe con số này làm cháu cũng vàng cả mắt :))

-Rồi sao nữa ?

-Và cơ hội của cháu đã tới. Cô thấy không, với sức của hai Ngài thì sao mà đếm nổi từng đó thỏi vàng trong cái kho mênh mông ấy chứ, già rồi :)). Và cháu đã có cách để trợ giúp các Ngài.

-Chao ôi Jack ơi, cháu đúng là thiên tài  

-Dạ không dám cô Daisy. Kinh nghiệm marathon lâu năm trên cả tuyến đường bộ và đường biển đã cho cháu một cái sự rất nhạy bén, thời tới cản không  được :)). Cháu sẽ thuê dài hạn cái kính lúp kiểm tra rác trên vỉa hè của thằng Leo để cho Ngài Nam Trung thuê lại. Đến cái hạt bụi bé tí teo thế mà chiếc kính thần kỳ này còn phát hiện ra nữa là những thỏi vàng to đến nhường ấy. Ôi, vàng ơi vàng ơi hãy mở cửa ra :))

-Ôi trời, thôi nha Jack. Sáng mai 7h có tiết kiểm tra Hóa học đấy cháu nhớ chưa. Về nhà ngay đi thôi!

-Cám ơn cô đã nhắc cháu cô Daisy. Chúng cháu đang học về Vàng nên không lo, gì chứ đề thi ra Au, cách kiểm tra số lượng Vàng thì cháu không  được 10 cũng phải 9.5 :)). Thôi, cháu về đây, chào cô ạ!

-Chào cháu Jack!

Chiếc xe đạp lại lao đi trong bóng tối. Và Gió tôi cũng bay đi!

Bay vào trong trang sách bài học về Vàng của cậu bé Jack, để lại tiếp tục kể cho các bạn 

CÂU CHUYỆN VỀ VÀNG

By Hal Hellman

(1)

Thần Vàng

Một ngày nọ vào năm 1799, Conrad Reed, 12 tuổi, tìm thấy một kho báu dưới một dòng suối. Khi đi bộ gần nhà ở Bắc Carolina, cậu nhìn thấy một hòn đá màu vàng tuyệt đẹp có kích thước bằng quả bóng chày  dưới mặt nước. Khi mang nó về nhà, Conrad hẳn đã nhận thấy nó rất nặng. Mặc dù vậy, cả cậu và gia đình đều không nhận ra đó là một cục vàng.

Sau vài năm, gia đình cậu bán những viên đá này cho một thợ kim hoàn với giá 3,5 USD. Ngay sau đó có tiếng kêu: “Vàng! Vàng đã được tìm thấy ở Bắc Carolina!” bắt đầu lan rộng trên khắp đất nước non trẻ. Đó là cuộc phát hiện vàng đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhiều cục vàng khác được đào lên từ vùng Bắc Carolina, có cục to bằng quả bưởi. Cục vàng của Conrad nặng 17 pound (gần 8kg) cuối cùng được bán với giá 4.000 USD.

Khi vàng được phát hiện ở Georgia vào năm 1829, một làn sóng người dân từ khắp các bang đổ về. Họ đi bộ, cưỡi ngựa – bằng mọi cách có thể. Người ta nói rằng họ hành động giống những kẻ điên hơn bất cứ điều gì khác.

Năm 1848, vàng được phát hiện ở California và mọi thứ còn trở nên điên rồ hơn. Những người đàn ông có đôi mắt hoang dã với cơn sốt vàng đổ xô đến đó từ các bang khác và từ khắp nơi trên thế giới. Một số trở nên giàu có, nhưng nhiều người trở nên thất vọng và đau ốm. Thường thì cuối cùng họ lại nghèo hơn so với khi bắt đầu.

Điều gì ở thứ kim loại màu vàng sáng bóng này lại khiến người ta hành động điên cuồng đến vậy? Điều gì khiến vàng có giá trị đến mức người ta sẽ mạo hiểm số tiền ít ỏi họ có – và thậm chí cả mạng sống của họ – để theo đuổi nó?

Có một điều, vàng rất hiếm. Trung bình chỉ có 10 pound (1 pound tương đương 0,454 kg) vàng cho mỗi 2 tỷ pound đất trên trái đất. Tất cả số vàng trên thế giới có lẽ sẽ tạo thành một khối lập phương chỉ có 60 feet (18 mét) mỗi cạnh.

Nhưng vàng cũng rất đặc biệt theo những cách khác. Ví dụ, nó là một trong số ít kim loại không bị rỉ sét hoặc ăn mòn. Vàng là kim loại duy nhất ngoài đồng có màu sắc tự nhiên. Tất cả các kim loại khác có màu xám hoặc trắng. Và không có kim loại nào có thể sánh được với ánh sáng rực rỡ tuyệt đẹp của vàng.

Những phẩm chất độc đáo của vàng đã truyền cảm hứng cho mọi người tìm kiếm nó từ lâu. Đối với người cổ đại, kim loại vàng giống như mặt trời. Từ tiếng Latin có nghĩa là vàng, aurum, có nghĩa là “bình minh tỏa sáng”. Vì vàng nguyên chất và trường tồn như một vị thần nên người Ai Cập cổ đại coi vàng là biểu tượng của thần mặt trời.

Kể từ thời điểm đó, vàng được đối xử như một vị thần theo nhiều cách khác nhau. Nó đã trở thành tiền và được tôn thờ vì sự giàu có mà nó có thể mang lại. Giống như trong cơn sốt vàng, mọi người thường sẵn sàng làm bất cứ điều gì để có được nó. Một số thậm chí còn cố gắng biến chì và các kim loại khác thành vàng.

Theo một cách nào đó, nhiều người trong số họ đang theo đuổi một vị thần giả – một vị thần tham lam. Họ thậm chí còn không nhận thức được những phẩm chất thần thánh của vàng. Trong nỗ lực làm giàu nhanh chóng, họ đã bỏ lỡ vẻ đẹp của thần vàng.

Mặc dù vàng đã có từ rất lâu nhưng chỉ trong thế kỷ này chúng ta mới biết được một số lý do khoa học giải thích cho những đặc tính tuyệt vời của nó. Bây giờ chúng ta đã hiểu điều gì làm nó khác biệt với các chất khác.

Vàng không chỉ đẹp mà còn là chất dẫn điện tốt và phản xạ ánh sáng tốt. Những đặc tính này và những phẩm chất khác đã được áp dụng vào hoạt động theo nhiều cách đáng ngạc nhiên khác nhau trong điện tử, y học, vũ trụ và công nghiệp.

Nếu bạn đọc tiếp, bạn cũng có thể biết về vàng. Bạn sẽ thấy rằng nó đã mang lại cho con người nhiều niềm vui và sự thích thú. Nhưng bạn cũng sẽ thấy rằng nó đã gây ra rất nhiều đau khổ. Khi đọc xong, bạn sẽ biết nhiều điều mà các nhà khoa học biết về kim loại quý này cũng như những ảnh hưởng của nó đến thế giới.

(2)

Vàng thời cổ đại

Mặc dù vàng rất hiếm nhưng nó là một trong những kim loại đầu tiên được con người phát hiện ra cách đây hàng nghìn năm. Màu vàng lấp lánh của nó rất dễ nhìn thấy trên mặt đất. Và, không giống như hầu hết các kim loại khác, vàng nguyên chất đôi khi có thể được tìm thấy trên mặt đất. Đó là vì vàng không tương tác nhiều với các chất khác.

Các kim loại khác, bao gồm bạc và đồng, tương tác với không khí. Chúng bị ăn mòn dần dần theo thời gian trong một quá trình gọi là ăn mòn. Chúng thay đổi màu sắc và mất đi độ sáng bóng.

Vàng thì khác. Nó có xu hướng vẫn còn tinh khiết và không thay đổi. Miếng vàng đầu tiên được lấy ra khỏi trái đất từ ​​hàng ngàn năm trước chắc chắn vẫn còn ở đâu đó. Và không còn nghi ngờ gì nữa, bây giờ nó vẫn sáng bóng và tươi sáng như lúc đó. Ngay cả những đồng tiền vàng từ những con tàu kho báu bị chìm cũng tỏa sáng lấp lánh, trong khi gỗ và sắt trong tàu đã mục nát và rỉ sét.

Cách đây 6.000 năm, con người đã bắt đầu tìm thấy vàng và sử dụng nó để trang trí. Khi họ thấy nó tồn tại được bao lâu, vàng mang nhiều ý nghĩa hơn. Nó dường như giống như một vị thần vĩnh cửu nên họ bắt đầu chế tạo những đồ vật bằng vàng cho mục đích tôn giáo và ma thuật.

Vì vậy, những nhà cai trị vĩ đại của thế giới cổ đại, đặc biệt là các pharaoh Ai Cập, coi vàng là vật thiêng liêng. Vàng tượng trưng cho thần mặt trời của Ai Cập, Amon-Re, người tạo ra vạn vật. Người Ai Cập tin rằng ai có vàng sẽ giàu có và trường sinh.

Đối với họ, cái chết chỉ là sự khởi đầu của một cuộc hành trình đến một thế giới khác. Khi các pharaoh qua đời, họ được chôn cất cùng với bất cứ thứ gì họ có thể cần ở kiếp sau. Những ngôi mộ được lấp đầy bằng vàng để đảm bảo mỗi pharaoh sẽ có một cuộc sống thoải mái với tư cách là người cai trị ở thế giới bên kia.

Ngôi mộ của vị vua trẻ Tutankhamen, qua đời năm 1350 trước Công nguyên, là ngôi mộ ngoạn mục nhất trong số những ngôi mộ đã được phát hiện. Năm 1922, các nhà khảo cổ tìm thấy bốn phòng chôn cất lớn chứa đầy kho báu bằng vàng đến mức phải mất nhiều năm để phân loại và di dời chúng. Thi thể của ông được bọc vàng và đặt trong ba chiếc quan tài bằng vàng, chiếc này nằm bên trong chiếc kia. Những chiếc quan tài này sau đó được đặt trong một ngôi đền dát vàng.

Làm việc với vàng

Những người thợ kim hoàn chế tạo các đồ vật trong lăng mộ vua Tut có tay nghề đáng kinh ngạc. Ngay cả trước thời Ai Cập, người ta đã tìm ra cách tăng cường độ cứng của vàng bằng cách nấu chảy và trộn nó với các kim loại khác. Điều này rất quan trọng vì vàng nguyên chất quá mềm để sử dụng làm đồ trang sức và đồ vật nghệ thuật. Người Ai Cập sau đó đã cải tiến các phương pháp trộn kim loại. Hỗn hợp kim loại được gọi là hợp kim.

Người Ai Cập cũng tìm ra những cách thông minh để tạo hình vàng thành các hình dạng. Một là mạ vàng, phủ lên đồ vật một lớp vàng mỏng. Quá trình này tận dụng một đặc tính khác thường của kim loại quý. Nếu bạn nhẹ nhàng đập một khối vàng nhỏ, bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra? Nó mềm đến mức có thể phẳng ra mà không mất đi độ bóng.

Và nếu bạn tiếp tục rèn, cuối cùng bạn sẽ có được một tấm vàng mỏng có kích thước bằng một căn phòng. Quá trình đập vàng được gọi là dát vàng. Những tấm vàng mỏng gọi là vàng lá, có màu xanh lục nhạt. Không có kim loại nào khác có thể được rèn và tạo hình dễ dàng như vàng. Nói cách khác, nó cực kỳ dễ uốn.

Người Ai Cập cũng phát hiện ra rằng một khối vàng nhỏ có thể được kéo ra thành những sợi dây rất mỏng. Nếu sợi dây được kéo thật mỏng, nó có thể kéo dài 50 dặm (80 km). Người Ai Cập gắn dây vàng vào nền vàng để làm đồ trang sức và đồ trang trí. Tác động này, được gọi là đồ kim hoàn, vẫn được sử dụng trong đồ trang sức ngày nay.

Những người thợ kim hoàn đã nghĩ ra một cách khéo léo để tạo ra những đồ vật bằng vàng nguyên khối với bất kỳ hình dạng nào họ mong muốn. Ví dụ, họ có thể tạo ra những món đồ phức tạp, tinh tế như hoa bằng vàng. Đầu tiên, họ điêu khắc vật thể bằng sáp và sau đó phủ nó bằng đất sét tạo hình, để lại một lỗ hở ở trên cùng. Sau khi đất sét cứng lại, vàng nóng chảy được đổ vào lỗ hở.

Vàng nóng đến mức sáp tan chảy và bay vào không khí. Vàng nguội và cứng lại thành hình dạng khuôn đất sét. Khi đất sét bị vỡ ra, vật đúc bằng sáp ban đầu vẫn còn nguyên màu vàng hoàn hảo. Ngày nay người ta sử dụng một quy trình tương tự, được gọi là phương pháp đúc sáp bị mất (đúc chính xác) , để tạo ra những đồ vật phức tạp.

Nhưng không chỉ có thợ kim hoàn mới làm được những điều đáng chú ý ở Ai Cập. Bởi vì người Ai Cập có rất nhiều vàng nên họ đã làm việc chăm chỉ để tìm ra những cách tốt hơn để lấy vàng từ lòng đất. Ai Cập cổ đại thực sự là nơi khai sinh ra nghề khai thác vàng.

Mặc dù vàng có thể được tìm thấy dưới dạng vàng cục tự nhiên hoặc mảnh trôi theo dòng suối, nhưng đôi khi nó được tìm thấy trộn lẫn với các kim loại và khoáng chất khác trong lòng đất. Nó vẫn là vàng nguyên chất, nhưng được trộn kỹ đến mức thành những hạt rất nhỏ. Các hạt vàng được ẩn giấu, giống như muối trong hỗn hợp bột mì và baking soda  (là một hợp chất vô cơ có công thức hóa học NaHCO₃) . Vì vàng rất hiếm nên người Ai Cập bắt đầu cố gắng tách vàng ra khỏi hỗn hợp này.

Nhưng thật khó để biết được nếu chỉ nhìn vào một mảnh đá trên mặt đất có chứa vàng hay không. Họ phải tìm cách ước tính lượng vàng có trong một mẫu đá.

Một phương pháp là chà mẫu lên một bề mặt màu đen. Từ màu sắc của vết chà và độ mềm của vật liệu, họ có thể biết được nó chứa bao nhiêu vàng. Nếu có đủ vàng, họ sẽ khai thác đá ở khu vực xung quanh.

Khi các pharaoh yêu cầu ngày càng nhiều vàng, những người thợ mỏ buộc phải khai thác ở những khu vực chứa ít vàng hơn. Để xác định vị trí của chúng, họ phải tách vàng ra khỏi mẫu từ một khu vực. Sau đó, họ chia trọng lượng vàng cho trọng lượng của mẫu. Điều này cho họ biết rất chính xác tỷ lệ vàng có trong khu vực đó.

Họ đã phát triển một cách thông minh để nấu chảy vàng từ mẫu bằng cách nghiền quặng và nung nóng nó với một ít quặng chì và cát. Quy trình cơ bản tương tự, được gọi là phương pháp luyện kim, được các công ty khai thác mỏ sử dụng ngày nay. Nó chính xác đến mức nó thường xuyên đo được ít nhất một ounce vàng trong một tấn quặng.

Đây cũng là quy trình cơ bản tương tự được sử dụng để lấy vàng từ quặng. Tuy nhiên, phương pháp luyện kim của người Ai Cập không tiên tiến bằng phương pháp hiện đại. Nếu có bạc trong quặng, nó sẽ tan chảy và trộn lẫn với vàng. Người Ai Cập cho rằng hỗn hợp này, được gọi là electrum, là một kim loại hoàn toàn khác với cả vàng và bạc. Nó thực sự là một hợp kim vàng-bạc.

Người Ai Cập coi electrum khá đẹp theo cách riêng của nó. Bạc làm sáng màu vàng và củng cố nó. Nữ hoàng Hatshepsut, vị pharoah nữ duy nhất của Ai Cập, đã đánh lên má mình một lớp electrum như là phấn.

Một phương tiện trao đổi

Cuối cùng, nền văn minh khác bắt đầu trỗi dậy và phát triển khắp Ai Cập. Trong số đó có một thành bang tên là Lydia, nằm ở phía tây Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Giống như ở Ai Cập, những người cai trị Lydia đã thu thập được rất nhiều vàng. Sau đó, vào khoảng năm 560 trước Công nguyên, họ đã nảy ra một ý tưởng thông minh. Họ làm ra tiền từ vàng và dùng chúng để mua đồ.

Các đồng xu được cân nhắc cẩn thận và đưa ra giá trị cụ thể dựa trên lượng vàng chứa trong chúng. Vàng có lẽ được trộn với một ít bạc và có lẽ là một kim loại khác. Vàng nguyên chất sẽ quá mềm để có thể chịu được sự va chạm của đồng xu. Chúng sẽ bị trầy xước và uốn cong quá dễ dàng.

Ý tưởng đơn giản này đã có tác động to lớn đến thế giới kinh doanh. Thay vì phải trao đổi thứ này để lấy thứ khác, các thương gia đã có cách thanh toán thuận tiện và có tổ chức hơn.

Ý tưởng giao dịch bằng tiền vàng lan truyền rất nhanh trên toàn thế giới. Sau này, khi người La Mã trở nên hùng mạnh và chiếm lĩnh phần lớn thế giới cổ đại, đồng tiền vàng của người La Mã được chấp nhận và ngưỡng mộ ở khắp mọi nơi.

Vào thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, người Hy Lạp đã sử dụng những hạt nhỏ của cây carob làm quả cân trên cân để xác định chính xác lượng vàng trong đồng tiền của họ. Trọng lượng của 24 hạt carob tương đương với trọng lượng của một đồng xu nhỏ bằng vàng ròng.

Đơn vị tương tự được sử dụng ngày nay để chỉ độ tinh khiết của vàng. Nó được gọi là karat, từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là carob. Vàng nguyên chất là vàng 24 karat. Khi đồ trang sức được làm bằng hợp kim chỉ có một nửa vàng thì được gọi là vàng 12 karat.

Không lâu sau khi tiền xu được phát minh, những kẻ lừa đảo bắt đầu làm tiền giả. Chúng có thể dễ dàng phủ một lớp vàng mỏng lên kim loại rẻ tiền để làm cho nó trông giống như vàng nguyên khối. Hoặc chúng có thể tạo ra hợp kim của vàng với đồng hoặc kẽm và coi nó là vàng nguyên khối.

Việc biến vàng thành tiền khiến mọi người càng muốn có nó hơn nữa. Một số người trong số họ sẽ làm bất cứ điều gì – nói dối, gian lận hoặc ăn trộm – để có được nó. Mọi người bắt đầu tìm kiếm nó vì sức mua của nó chứ không chỉ vì vẻ đẹp, sự thuần khiết và ma thuật của nó. Vị thần vàng đang trở thành vị thần tiền bạc.

(3)

Sự kỳ diệu của vàng

Các thợ kim hoàn Ai Cập rất lành nghề nhưng họ không hiểu cách thức và lý do tại sao phương pháp của họ hoạt động. Đối với tất cả những gì họ biết, đó có thể là phép thuật. Khi người Hy Lạp cổ đại lần đầu tiên nhìn thấy người Ai Cập làm việc với vàng, chắc hẳn họ đã rất ngạc nhiên.

Không lâu sau đó, vào khoảng thế kỷ thứ ba sau Công nguyên, người Hy Lạp bắt đầu tìm cách biến các kim loại khác thành vàng. Có lẽ các quy trình của Ai Cập đã truyền cảm hứng cho họ. Rốt cuộc, người Ai Cập có thể làm cho vàng trong hợp kim di chuyển lên bề mặt và bao phủ hoàn toàn nó. Chắc hẳn trông giống như hợp kim đã được biến thành vàng nguyên chất!

Ý tưởng này rất phù hợp với các lý thuyết của Hy Lạp về vật chất, thứ tạo nên mọi thứ trên trái đất. Hồi đó, người Hy Lạp tin rằng kim loại phát triển từ từ trong lòng đất, biến đổi từ cái này sang cái khác cho đến khi chúng đạt đến độ hoàn hảo.

Tất nhiên, sự hoàn hảo là vàng. Các kim loại ban đầu có màu đen, sau đó chuyển sang màu trắng và cuối cùng là vàng. Có lẽ người Hy Lạp nghĩ rằng các phương pháp của Ai Cập chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của kim loại.

Người Hy Lạp cũng tin rằng có thể biến đổi một chất này thành bất kỳ chất nào khác. Tất cả những gì bạn phải làm là điều chỉnh lượng của bốn chất cơ bản tạo nên nó. Những chất này là đất, không khí, lửa và nước. Người Hy Lạp tin rằng bốn nguyên tố này là một phần của mọi thứ trên trái đất.

Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi người Hy Lạp tin rằng có cách biến kim loại thành vàng. Ngoài ra, Chúa đã ban cho nó một chút phép thuật ngay cả sau khi nó được sử dụng trong giao dịch hàng ngày.

Giống như người Ai Cập trước đó, người Hy Lạp gắn vàng với mặt trời. Họ tin vào chiêm tinh học, quan niệm cho rằng chuyển động của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh sẽ kiểm soát các sự kiện trên trái đất. Vì mặt trời là vật thể mạnh nhất nên vàng cũng được cho là có sức mạnh. Họ nghĩ rằng nó có thể chữa lành bệnh tật và mang lại sự sống vĩnh cửu.

Công đoạn biến các kim loại như chì, thiếc hoặc đồng thành vàng được gọi là thuật giả kim. Các nhà giả kim không chỉ tìm kiếm sự giàu có đáng kinh ngạc mà còn tìm kiếm sự hoàn hảo về mặt tinh thần.

Bởi vì vàng rất tinh khiết nên dường như nó có một phẩm chất tốt đẹp nào đó. Nó tránh tương tác với các kim loại hoặc vật liệu ít hơn. Điều này có vẻ rất giống những nỗ lực tôn giáo của con người để duy trì sự tốt đẹp và trong sạch bằng cách tránh những ảnh hưởng xấu. Các nhà giả kim tin rằng nếu họ tìm ra cách biến các kim loại khác thành vàng, họ cũng có thể đạt được điều tốt đẹp trong quá trình này.

Người Trung Quốc bắt đầu theo đuổi một loại thuật giả kim tâm linh thậm chí trước cả người Hy Lạp. Họ tìm kiếm một chất có sức mạnh thần bí đến mức nó có thể điều chỉnh các đặc tính của kim loại hoặc con người đến mức hoàn hảo. Họ gọi nó là thuốc trường sinh vì họ tin rằng nó sẽ khiến con người sống mãi.

Người Ả Rập, những người buôn bán với cả người Hy Lạp và người Trung Quốc, bắt đầu tìm kiếm thuốc trường sinh vào khoảng năm 700 sau Công Nguyên. Họ đã thử nghiệm nhiều chất trong quá trình tìm kiếm của mình. Để kiểm tra từng loại, họ đã thử trộn nó với các kim loại khác nhau.

Họ hy vọng rằng một trong những chất này sẽ điều chỉnh các nguyên tố trong kim loại thành sự kết hợp hoàn hảo để tạo ra vàng. Bất cứ điều gì di chuyển kim loại màu xám đến gần hơn với màu vàng của vị thần vàng đều khuyến khích họ tin rằng mình đang đi đúng hướng.

Vào khoảng năm 1200 sau Công nguyên, người châu Âu đã tiếp thu những ý tưởng của người Ả Rập và bắt đầu nghiên cứu thuật giả kim của riêng họ. Từ thuật giả kim xuất phát từ một từ Ả Rập, và từ đó có thể xuất phát từ từ tiếng Trung có nghĩa là vàng -kim.

Thành quả của thuật giả kim

Người châu Âu thành lập các phòng thí nghiệm và bắt đầu nghiên cứu đủ loại chất. Họ phát hiện ra rằng khi một số chất kết hợp với nhau, chúng sẽ kêu xèo xèo, bốc khói hoặc thậm chí phát nổ. Những phản ứng hóa học kỳ lạ này tạo ra các chất mới thay thế cho chất cũ. Họ mang đến cho các nhà giả kim hy vọng rằng một ngày nào đó họ sẽ tìm ra được sự kết hợp có thể tạo ra vàng.

Trong quá trình tìm kiếm, các nhà giả kim người Ả Rập và châu Âu đã phát hiện ra nhiều loại hóa chất mới. Một nhà giả kim đã tạo ra chất đầu tiên phát sáng trong bóng tối. Ngày nay nó được gọi là bari sunfua. Các nhà giả kim cũng phát hiện ra một nhóm hóa chất hoàn toàn mới gọi là axit. Khi axit được thêm vào kim loại, chẳng hạn như thiếc, thiếc sẽ tan ra, để lại chất bột. Họ đã phát hiện ra các axit mạnh mà ngày nay chúng ta biết là axit nitric, hydrochloric và sulfuric.

Sau khi tìm kiếm và tìm kiếm, họ chỉ tìm thấy một loại axit có thể hòa tan vàng. Đó là hỗn hợp của axit nitric và axit clohydric. Họ gọi nó là nước cường toan, tiếng Latin có nghĩa là “nước hoàng gia”

Nhưng các nhà giả kim chưa bao giờ tìm ra cách tạo ra vàng. Rất nhiều người trong số họ tuyên bố họ làm vậy để lừa tiền của mọi người. Những nhà giả kim lén lút này có thể khuấy nồi hóa chất của họ bằng một cây gậy chứa vàng giấu bên trong. Khi nồi nóng lên, vàng sẽ bất ngờ xuất hiện. Hoặc họ có thể tạo ra một chất trông giống như vàng.

Vì mọi người tin rằng kim loại mọc trong lòng đất giống như thực vật nên những kẻ lừa đảo thường thử bán “hạt giống” vàng. Khi được đặt trên một kim loại màu xám, những hạt giống được cho là sẽ dần dần biến nó thành vàng.

Vì những chiêu trò này mà thuật giả kim cuối cùng bị mang tiếng xấu. Sau khi các nhà giả kim bị phát hiện làm tiền vàng giả vào năm 1317, giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Pháp đã ra lệnh cho tất cả các nhà giả kim rời khỏi Pháp. Và vào năm 1403, nước Anh đã thông qua luật cấm cố gắng tạo ra vàng bằng hạt giống.

Đến đầu những năm 1500, Paracelsus, một nhà giả kim và bác sĩ nổi tiếng, bắt đầu chuyển trọng tâm sang thuật giả kim. Ông lập luận rằng các nhà giả kim nên nghiên cứu phản ứng giữa tất cả các loại hóa chất, chứ không chỉ những phản ứng có thể tạo ra vàng. Ông nghĩ nếu họ làm vậy thì có thể tìm ra được những loại thuốc mới.

Kết quả là, các nhà giả kim bắt đầu nghiên cứu hóa học vì mục đích riêng của nó. Đến thế kỷ XVII, mục tiêu của thuật giả kim đã gần như chuyển hoàn toàn khỏi việc biến kim loại thành vàng và hướng tới đạt được sự hoàn thiện về mặt tinh thần. Nhưng nhiều nhà giả kim vẫn tin rằng khi họ đạt được sự hoàn thiện về tâm linh, họ sẽ có thể biến kim loại thành vàng.

Một nhà vật lý vĩ đại tên là Isaac Newton đã khám phá thuật giả kim như một loại tôn giáo trong thời gian này. Trên thực tế, ông đã dành nhiều thời gian trong phòng thí nghiệm giả kim hơn là nghiên cứu các định luật chuyển động và trọng lực đã khiến ông nổi tiếng. Một số người tin rằng công việc của ông với thuật giả kim đã giúp ông đưa ra những định luật đó.

Sự kết thúc của thuật giả kim

Thuật giả kim dần dần lụi tàn, nhưng các phương pháp, thiết bị và hóa chất trong phòng thí nghiệm đã trở thành nền tảng cho một ngành khoa học hóa học mới. Các thí nghiệm hóa học khiến các nhà khoa học bắt đầu đặt câu hỏi về lý thuyết về bốn nguyên tố.

Người Hy Lạp không nghĩ rằng việc thực hiện các thí nghiệm để chứng minh lý thuyết của họ là quan trọng. Nhưng bây giờ các nhà khoa học nhận ra rằng các lý thuyết phải được kiểm tra bằng cách thử nghiệm các chất có thật.

Một trong những người đầu tiên chỉ trích lý thuyết bốn nguyên tố của người Hy Lạp là nhà hóa học người Anh tên là Robert Boyle. Năm 1658, ông chỉ ra rằng rất nhiều thí nghiệm đã được thực hiện để cố gắng tách vàng thành bốn nguyên tố. Ông nói, trong tất cả những thí nghiệm đó, không ai tìm thấy dù chỉ một trong bốn nguyên tố có trong vàng. Ông lập luận rằng đã đến lúc phải thừa nhận rằng có điều gì đó không ổn trong lý thuyết này.

Trong thế kỷ tiếp theo, các nhà khoa học ngày càng tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy không khí và đất có thể bị phân hủy thành các chất khác. Chúng được tạo thành từ những chất khác, làm sao chúng có thể là nguyên tố được? Ví dụ, không khí thực sự là một hỗn hợp các loại khí vô hình như oxy.

Sau khi nghiên cứu những loại khí này và những loại khí mới khác, nhà hóa học người Pháp tên là Antoine Lavoisier đã phát hiện ra rằng ngay cả nước cũng không phải là một nguyên tố. Nó được làm từ oxy và một loại khí vô hình khác gọi là hydro. Cuối cùng, thế giới nhận ra rằng người Hy Lạp đã hoàn toàn sai lầm về các nguyên tố. Hydro và oxy là những nguyên tố thực sự, không phải nước, không khí, đất hay lửa.

Năm 1789, Lavoisier liệt kê 33 chất mà ông coi là các nguyên tố vì chúng chưa bị chia nhỏ thành bất cứ thứ gì khác. Tất nhiên, vàng cũng nằm trong số đó. Tất cả các kim loại khác cũng vậy, bao gồm đồng, sắt, chì, bạc và thiếc.

Đây là sự khởi đầu của hóa học hiện đại. Các nhà khoa học nhận ra rằng những phản ứng kỳ lạ giữa các chất mà các nhà giả kim lần đầu quan sát được chỉ đơn giản là các nguyên tố kết hợp với nhau để tạo thành hợp chất. Trong một số trường hợp, các hợp chất được tách thành các nguyên tố của chúng.

Ví dụ, khi nước cường toan hòa tan vàng, một phản ứng hóa học đang diễn ra. Vàng thực sự đang tạo thành một hợp chất với một trong những nguyên tố trong nước cường toan. Ngay cả sự ăn mòn của đồng và các kim loại khác cũng là một phản ứng hóa học. Oxy từ không khí kết hợp hóa học với kim loại và tạo thành hợp chất dạng bột.

Các nhà hóa học tiếp tục khám phá ngày càng nhiều nguyên tố. Họ đã tìm thấy tổng cộng 92 nguyên tố xuất hiện tự nhiên trên thế giới. Và họ đã có thể tạo ra những thứ khác một cách nhân tạo trong phòng thí nghiệm.

Vì vậy, mặc dù nhiệm vụ biến kim loại thành vàng thất bại, thuật giả kim đã tạo tiền đề cho một cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng này cuối cùng đã tạo ra hóa học như chúng ta biết ngày nay. Cuối cùng, thế giới có được thứ còn giá trị hơn vàng rất nhiều: sự thật về cách vật chất tương tác đáng kinh ngạc trong thế giới của chúng ta. Và chúng ta có vàng để cảm ơn vì điều đó.

(4)

Kim loại quý

Trong lĩnh vực hóa học mới, vàng không còn được chú ý nữa. Nó chỉ là một trong hơn hai chục nguyên tố khác, không tốt hơn cũng không tệ hơn những nguyên tố còn lại. Nhưng mỗi nguyên tố đều có những đặc điểm riêng, cũng như mỗi người có những cá tính đặc biệt của riêng mình.

Các nhà hóa học đã cố gắng tìm hiểu mọi thứ có thể về từng nguyên tố và cách chúng hoạt động. Họ bắt đầu tìm hiểu tính chất của các nguyên tố. Khi làm vậy, họ đã khám phá ra điều gì khiến vàng có vẻ đặc biệt trong suốt lịch sử.

Bằng cách so sánh các nguyên tố với nhau, các nhà hóa học bắt đầu sắp xếp chúng thành các nhóm. Vàng thuộc về một nhóm lớn các nguyên tố luôn được gọi là kim loại. Chúng có xu hướng là những vật liệu đậm đặc, sáng bóng. Chẳng bao lâu, các nhà hóa học bắt đầu khám phá ra một số điều rất thú vị về kim loại. Thứ nhất, nếu hai kim loại khác nhau được đặt cạnh nhau, một dòng điện sẽ chạy giữa chúng!

Vào thời điểm đó, điện là một thứ kỳ lạ và kỳ diệu. Nó chỉ mới được phát hiện gần đây thôi. Không ai biết chính xác nó là gì hoặc nguyên nhân gây ra nó.

Các nhà hóa học đã thử truyền điện qua nhiều vật liệu khác nhau. Họ phát hiện ra rằng kim loại dẫn điện tốt hơn bất kỳ nhóm nào khác. Và vàng hóa ra lại là một trong những chất dẫn điện tốt nhất.

Nhưng các nhà khoa học đã không khám phá ra điện là gì cho đến cuối thế kỷ 19. Đó là khi J.J. Thomson, một nhà vật lý người Anh, nhận ra rằng nó bao gồm các hạt nhỏ chạy qua một chất. Những hạt này, sớm được đặt tên là electron, mỗi hạt có điện tích âm.

Kim loại là chất dẫn điện tốt vì chúng có khả năng mang dòng electron (điện tử) lớn hơn các vật liệu khác. Nhưng những electron này đến từ đâu?

Các nhà hóa học bắt đầu tìm ra câu trả lời sớm hơn vào những năm 1800 khi họ cố gắng tìm hiểu cách các nguyên tố liên kết với nhau. Họ phát hiện ra rằng các nguyên tố tạo thành các hợp chất hóa học vì chúng có lực hút điện với nhau.

Các nguyên tố chứa các hạt gọi là nguyên tử có thể tích điện. Các nguyên tử của một nguyên tố liên kết với một nguyên tố khác nhờ điện tích của chúng. Các nguyên tử tập hợp thành các nhóm gọi là phân tử.

Thomson nhận ra rằng các electron phải chịu một phần trách nhiệm về điện tích trên các nguyên tử. Các electron phải đến từ bên trong các nguyên tử. Và ông đã đúng.

Electron tạo nên phần bên ngoài của nguyên tử. Trung tâm của nguyên tử, được gọi là hạt nhân, chứa các hạt mang điện tích dương, gọi là proton. Chúng bị hút bởi các electron vì chúng có điện tích trái dấu. Nguyên tử đơn giản nhất là nguyên tử hydro chỉ có một proton và một electron chuyển động xung quanh nó.

Mỗi nguyên tố có một nguyên tử với số proton và electron riêng của nó . Oxy có 8 proton và 8 electron. Nhưng vàng có tới 79 proton và 79 electron.

Số proton trong nguyên tử được gọi là số nguyên tử. Trong tự nhiên, có một nguyên tố cho mỗi số nguyên tử từ 1 đến 92. Vì vậy, bạn có thể thấy rằng vàng có một trong những số nguyên tử cao nhất so với bất kỳ nguyên tố nào.

So với electron, proton rất nặng, chúng nặng gấp 1,836 lần electron. Một hạt khác trong hạt nhân vàng nặng hơn một proton một chút. Nó được gọi là neutron vì nó có điện tích trung tính. Một nguyên tử vàng có 118 neutron và 79 proton trong hạt nhân. Điều đó làm cho nó trở thành một trong những nguyên tử nặng nhất. Trọng lượng nguyên tử của nó là 197.

Hơn nữa, các nguyên tử vàng, giống như hầu hết các kim loại, được xếp rất chặt chẽ với nhau. Kết quả là vàng có mật độ nguyên tố cao nhất. Mật độ của nó là điều mà mọi người sẽ nhận thấy ngay lập tức khi họ nhặt một miếng vàng lên. Một inch khối nhỏ (khoảng 16 cm khối) vàng nặng hơn 2/3 pound (gần 1/3 kg).

Sự tinh khiết của vàng

Các electron, ở phần bên ngoài của nguyên tử, xác định cách các nguyên tử tương tác với nhau. Xu hướng duy trì tính nguyên chất của vàng có thể được giải thích bằng vị trí của 79 electron của nó. Chúng được sắp xếp thành sáu vòng hoặc vỏ bao quanh hạt nhân.

Mỗi lớp vỏ là ngôi nhà cho một gia đình electron. Các electron ở lớp vỏ ngoài đôi khi có thể bị hút bởi các proton của nguyên tử khác. Nếu các gia đình ở cả hai lớp vỏ bên ngoài hòa hợp với nhau, các nguyên tử có thể quyết định gắn kết và tạo nên một gia đình lớn hạnh phúc.

Nhưng điều đó không xảy ra quá thường xuyên khi có liên quan đến vàng. Nhóm electron ở lớp vỏ ngoài của nó thường hoàn toàn hài lòng khi ở riêng. Để hiểu lý do tại sao, trước tiên bạn phải biết thêm về lý do tại sao các nguyên tố khác lại liên kết với nhau.

Hydro và oxy liên kết với nhau để tạo thành một trong những hợp chất phổ biến nhất trên trái đất – nước. Hydro chỉ có 1 electron cô đơn trong một lớp vỏ. Trong tất cả các nguyên tử khác, lớp vỏ gần hạt nhân nhất chứa một họ gồm 2 electron.

Ví dụ, khí helium vô hình có 2 electron ở lớp vỏ duy nhất. Gia đình của nó đã hoàn chỉnh nên nó không liên kết với các nguyên tử khác. Nhưng nguyên tử hydro cố gắng liên kết với các nguyên tử khác để chào đón electron của nó vào gia đình chúng. Đó là lý do tại sao nó liên kết với oxy.

Oxy có họ thứ nhất hoàn chỉnh gồm 2 electron và họ thứ hai gồm 6 electron ở trong một “ngôi nhà” hoặc lớp vỏ, cách xa hạt nhân hơn. Nhưng họ thứ hai chưa hoàn thiện cho đến khi nó có 8 electron. Vì vậy, oxy liên kết với các nguyên tử có thể chia sẻ 2 electron.

Hai nguyên tử hydro có thể cung cấp các electron mà oxy cần. Công thức hóa học của nước, H2O cho thấy mỗi phân tử chứa 2 nguyên tử hydro và 1 nguyên tử oxy.

Clo là một nguyên tố khác liên kết với hydro. Nó có 17 electron ở ba lớp vỏ. Hai lớp vỏ đầu tiên của nó được lấp đầy hoàn toàn với 2 và 8 electron. Lớp vỏ thứ ba, có 7 electron, cần thêm 1 electron nữa để tạo thành một họ hoàn chỉnh. Vậy 1 nguyên tử clo liên kết với 1 nguyên tử hydro tạo thành axit clohiđric. Công thức hóa học của nó là HCl.

Với sáu lớp, nguyên tử vàng phức tạp hơn nhiều so với những nguyên tử này. Mỗi lớp thứ tư, thứ năm và thứ sáu có chỗ cho 8 electron, cộng thêm 10 electron nữa. Giống như mỗi gia đình trong những ngôi nhà này đều có thêm năm phòng ngủ phụ trên một chái, và mỗi phòng ngủ có thể chứa 2 electron.

Lớp thứ sáu có chái thứ hai với bảy phòng ngủ có thể chứa thêm 14 electron. Lớp vỏ ngoài của vàng chứa tổng cộng 25 electron. Một electron ở trong phòng ngủ chính của ngôi nhà chính và phần còn lại lấp đầy hoàn toàn các phòng ngủ ở hai chái.

Trong hầu hết các nguyên tố có ít nhất bốn lớp, hai electron đầu tiên ở lớp ngoài sẽ ở trong phòng ngủ chính. Nhưng ở vàng, các electron thích lấp đầy hai chái hơn. Có vẻ như chúng muốn cạnh tranh ít nhất hai nhóm gia đình nhỏ ở lớp bên ngoài thay vì lấp đầy phòng ngủ chính. Việc hoàn thành hai nhóm nhỏ dường như có tác dụng tương tự như việc lấp đầy hoàn toàn lớp bên ngoài.

Vì vàng thường không hình thành liên kết với các nguyên tố khác nên nó được gọi là kim loại quý. Điều này cho thấy giống như các thành viên hoàng gia không kết hôn với thường dân. Helium và các loại khí khác có lớp vỏ ngoài được lấp đầy hoàn toàn được gọi là khí hiếm vì lý do tương tự.

Đồng có bốn lớp và bạc có năm lớp cũng là kim loại quý. Mỗi phòng có ở lớp ngoài một electron trong phòng ngủ chính và một cánh gồm năm phòng ngủ được lấp đầy. Hai kim loại này không phản ứng nhiều với các nguyên tố khác nhưng chúng không nguyên chất như vàng.

Bạn thân nhất của vàng

Nó có thể hiếm khi xảy ra, nhưng đôi khi vàng có liên kết với các nguyên tử khác. Có vẻ như electron trong phòng ngủ chính trở nên cô đơn và thỉnh thoảng đến ở cùng gia đình nguyên tử khác. Clo là chất được vàng yêu thích vì nó chỉ cần 1 electron để hoàn thành họ của nó.

Một nguyên tử vàng liên kết với 1 nguyên tử clo trong clorua vàng. Ký hiệu hóa học của vàng là Au, xuất phát từ aurum, từ tiếng Latin có nghĩa là vàng. Công thức của clorua vàng là AuCl.

Nhưng mọi thứ có thể trở nên phức tạp hơn. Một nguyên tử vàng đôi khi cũng liên kết với 3 nguyên tử clo. Hợp chất này được gọi là vàng triclorua. Có vẻ như nguyên tử vàng phóng ra một cặp electron từ cánh đầu tiên để đi cùng với một electron từ phòng ngủ chính. Mỗi electron lấp đầy một lỗ trống trong nguyên tử clo.

Người ta vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng tại sao vàng lại thay đổi số lượng electron mà nó chia sẻ. Hydro, oxy và các nguyên tố khác có số nguyên tử nhỏ có xu hướng ổn định hơn. Các electron bên ngoài trong kim loại không được giữ chặt ở một vị trí, một phần vì chúng ở xa hạt nhân hơn so với các electron của hydro và oxy. Tất cả các kim loại đều có ít nhất ba lớp vỏ electron.

Một số electron bên ngoài trong kim loại thực sự có thể thoát ra khỏi các nguyên tử. Những electron này chảy như một luồng điện khi bất kỳ khu vực nào của kim loại có nhiều điện tích dương hơn vị trí của chúng.

Điện thực chất là sự chuyển động của đám mây điện tử. Trong một nhóm nguyên tử kim loại, các electron bên ngoài thoát ra và tạo thành đám mây electron bao quanh các nguyên tử. Đám mây điện tích âm hoạt động như một loại “keo” giữ các nguyên tử kim loại tích điện dương lại với nhau. Vàng là chất dẫn điện tốt vì electron trong phòng ngủ chính có thể thoát ra khỏi nguyên tử của nó rất dễ dàng và vì lớp vỏ bên ngoài của nó có không gian cho electron di chuyển.

Các electron trong chái có năm phòng ngủ không phải lúc nào cũng thoát ra được, nhưng kết nối lỏng lẻo của chúng với nguyên tử sẽ hỗ trợ dòng điện. Chất keo do đám mây điện tử cung cấp làm cho hầu hết các kim loại trở nên bền và đặc. Đó là lý do các nguyên tử tập hợp lại với nhau rất chặt chẽ. Mặc dù chất keo rất bền nhưng các nguyên tử kim loại có thể trượt qua nhau khá dễ dàng.

Vì vậy, khi kim loại bị đập, nó sẽ uốn cong hoặc dẹt hơn là gãy. Điều này đặc biệt đúng với vàng. Đám mây electron cũng làm cho kim loại sáng bóng. Các electron hấp thụ ánh sáng tới trên bề mặt kim loại và phản xạ tất cả ánh sáng đó cùng một lúc trên bề mặt. Nếu không có đám mây điện tử, các nguyên tử kim loại sẽ hấp thụ ánh sáng.

Hầu hết các nguyên tử kim loại không liên kết với các nguyên tử của kim loại khác. Các nguyên tử trộn lẫn với nhau giống như các thành phần trong bột làm bánh, nhưng các electron của chúng không tương tác. Hợp kim của các kim loại khác nhau chỉ đơn giản là hỗn hợp của các nguyên tử.

Sau khi các nhà hóa học phát hiện ra tất cả những điều đáng kinh ngạc về các nguyên tố và các hạt tạo nên chúng, thuật giả kim thực sự có vẻ rất ngu ngốc. Rõ ràng là không có cách nào để thay đổi số lượng proton trong nguyên tử bằng cách trộn lẫn hoặc liên kết chúng với các nguyên tử của chất khác. Nhưng một loại thuật giả kim khác đã sớm được phát hiện vào gần đầu thế kỷ XX.

Thuật giả kim của tự nhiên

Không lâu sau khi J.J.Thomson phát hiện ra electron, các nhà hóa học đã có một khám phá đáng kinh ngạc khác. Người ta phát hiện ra rằng một số nguyên tố liên tục giải phóng các hạt và năng lượng. Những nguyên tố này có tính phóng xạ.

Chúng giải phóng các hạt beta là các electron và các hạt alpha là hạt nhân nguyên tử chứa hai proton và hai neutron. Bởi vì chúng đang mất đi proton nên các nguyên tố phóng xạ thay đổi hoặc phân rã thành các nguyên tố khác. Chúng hoạt động một cách tự nhiên những gì mà các nhà giả kim đã cố gắng đạt được bấy lâu nay.

Thật không may, không có nguyên tố nào tự nhiên phân hủy thành vàng. Nhưng các nhà khoa học đã có thể tạo ra vàng trong phòng thí nghiệm. Năm 1941, các nhà khoa học Harvard đã chuyển đổi thủy ngân thành vàng bằng cách bắn phá các nguyên tử thủy ngân bằng neutron tốc độ cao. Trong một số nguyên tử thủy ngân, một neutron có tốc độ xuyên qua hạt nhân và biến nó thành dạng vàng phóng xạ.

Thủy ngân được chọn vì nó chỉ có nhiều hơn vàng một proton. Điều thú vị là thủy ngân cũng là vật liệu yêu thích của các nhà giả kim. Chì, một loại vật liệu yêu thích khác của họ, cũng đã được chuyển đổi thành vàng một cách nhân tạo.

Hầu hết vàng nhân tạo này phân hủy nhanh chóng thành các nguyên tố khác. Dạng vàng tồn tại lâu nhất có chu kỳ bán rã chỉ 186 ngày. Hơn nữa, sẽ tốn khoảng một tỷ đô la để sản xuất một pound (nửa kg) vàng theo cách này.

(5)

Sự cám dỗ của vàng

Ánh vàng lấp lánh đã thu hút nhiều nhà thám hiểm đến những vùng đất mới. Christopher Columbus là người nổi tiếng nhất. Trước khi khám phá ra châu Mỹ, ông đã phát sốt lên vì vàng khi nhìn thấy kim loại này được khai thác dọc theo Bờ biển Vàng của Châu Phi.

Nhiều nhà sử học tin rằng lý do thực sự của ông khi đi về phía tây từ Tây Ban Nha đến Phương Đông là để tìm vàng.

Columbus được cử trở lại với chỉ thị để định cư vùng đất mới và bắt đầu khai thác mỏ vàng. Khi khám phá những khu vực mới, ông luôn để mắt tới vàng. Khi nó được tìm thấy, Columbus và những người định cư Tây Ban Nha thường ngược đãi người bản xứ để có được nó.

Trong thế kỷ tiếp theo, có thêm nhiều nhà thám hiểm châu Âu lên đường tìm vàng ở châu Mỹ. Họ tin chắc rằng ở Nam Mỹ có một vùng đất đầy vàng và của cải. Họ gọi nó là “El Dorado” trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “thứ mạ vàng”.

Francisco Pizarro hẳn đã nghĩ rằng ông đã tìm thấy El Dorado khi đến vùng đất của người Inca vào năm 1531. Người Inca là những người châu Mỹ bản địa sống ở khu vực ngày nay là Peru.

Đối với người của Pizarro, các thành phố của người Inca dường như chứa đầy vàng. Ngay cả những đường ống dẫn nước trong cung điện ở thủ đô Cuzco cũng được làm bằng vàng.

Nhưng hầu hết vàng đều ở dạng tượng, đồ trang sức và các vật dụng khác. Chúng được làm bằng cùng một phương pháp làm mất sáp mà người Ai Cập đã sử dụng. Người Inca đã tự mình phát triển nó.

Họ cũng đã thực hiện một số công việc hóa học tiên tiến đáng ngạc nhiên. Nghiên cứu gần đây của một nhà khoa học từ Viện Công nghệ Massachusetts chỉ ra rằng một số tác phẩm của người Inca được mạ một lớp vàng cực kỳ mỏng. Người Inca có thể đạt được chất lượng tương tự như phương pháp hiện đại, được gọi là mạ điện.

Có khả năng là kỹ thuật hóa học của người Inca có nguồn gốc từ một nền văn minh thậm chí còn sớm hơn. Đế chế Chimu ở Peru phát triển mạnh mẽ từ năm 1150 đến năm 1450. Các thợ kim hoàn Chimu không chỉ thành thạo việc mạ vàng mà còn hàn, chế tạo hợp kim và đúc sáp.

Để mạ các đồ vật, trước tiên họ phủ chúng bằng một hợp kim gồm 30% vàng và 70% đồng. Sau đó, họ sử dụng axit chiết xuất từ ​​thực vật. Đồng phản ứng với axit tạo thành hợp chất gọi là oxit đồng. Oxit này có thể được làm sạch để lại một lớp vàng nguyên chất mỏng.

Người Inca đã chinh phục người Chimu và học được kỹ năng rèn vàng của họ. Và họ đã bổ sung thêm tài năng nghệ thuật đáng kể của riêng mình. Nhưng khi người Tây Ban Nha chinh phục người Inca, tất cả những gì họ muốn là vàng. Họ không có hứng thú với nghệ thuật của người Inca.

Người Tây Ban Nha đã nấu chảy khoảng 13 tấn đồ vật bằng vàng. Vì vàng có điểm nóng chảy tương đối thấp nên họ có thể dễ dàng thực hiện điều đó. Bởi hành động đơn giản này, một kho tàng văn hóa vĩ đại đã bị mất đi mãi mãi.

Định cư miền Tây

Vàng chắc chắn là nhân tố chính trong sự ổn định nhanh chóng của miền Tây nước Mỹ. Sự hấp dẫn của vàng ở California đã thu hút hàng nghìn hàng nghìn người đến nơi từng là nơi hoang dã thuần túy cho đến thời điểm đó.

Những người này là những nhà thăm dò mà chúng ta thấy trên phim và đọc trong sách. Từ “Triển vọng” (Prospect) có liên quan đến kỳ vọng và hy vọng, và đối với nhiều người trong số họ, đó là tất cả những gì họ có.

Tất cả những gì một người cần để tìm kiếm vàng là một cái cuốc, một cái xẻng và một cái chảo hình bánh. Sau khi những người tìm kiếm tìm thấy một con suối, họ có thể bắt tay ngay vào công việc, tìm kiếm giải độc đắc từ những chiếc xúc từ lòng suối.

Vì quá đặc nên vàng thường đọng thành từng mảng ở đáy suối. Những vảy bong ra do sự bào mòn của vàng chôn sâu trong lòng đất. Trong một phương pháp gọi là sàng lọc, những người thăm dò đã múc một ít cát, sỏi và nước từ dòng suối vào một chiếc chảo hình chiếc bánh. Họ vung nó xung quanh, đẩy nước và bụi bẩn ra khỏi chảo. Những mảnh kim loại nhỏ màu vàng vẫn còn sót lại dưới đáy chảo.

Nhiều người đến vào năm đầu tiên của cơn sốt vàng – 1848 – đã thực sự kiếm được nhiều tiền. Nhưng khoảng 250.000 người đến từ khắp nơi trên thế giới vào năm 1849 và ba năm sau đó đã không may mắn như vậy. Hầu hết họ cuối cùng phải làm việc nhiều ngày với những công việc khốn khổ. Các sòng bạc và quán rượu làm ăn phát đạt. Nhiều người trong số những người đào vàng, hay còn gọi là Forty-niners (Người đến Mỹ kiếm vàng năm 1849), như họ vẫn được gọi, là những tên trộm, những tay cờ bạc và những kẻ sống ngoài vòng pháp luật.

Vào nửa cuối thế kỷ 19, vàng cũng được phát hiện ở các bang phía Tây khác. Vào những năm 1870, Tướng George Amstrong Custer báo cáo đã tìm thấy vàng cục tự nhiên ở Nam Dakota trên vùng đất dành riêng cho người da đỏ Sioux. Vùng đất ở Black Hills là vùng đất thiêng liêng đối với người Sioux. Theo luật, người da trắng không được đặt chân vào khu bảo tồn. Nhưng cơn sốt vàng đã bao trùm và các quan chức địa phương đã ngoảnh mặt đi khi những người đàn ông da trắng xâm phạm khu bảo tồn.

Deadwood Gulch khởi đầu là một địa điểm dọc theo con suối nơi vàng được tìm thấy ở Black Hills. Nhưng nó nhanh chóng phát triển thành thị trấn khai thác mỏ hoang dã với 25.000 người.

Wild Bill Hickok, người trở nên nổi tiếng với tư cách là một luật sư ở Kansas, đã đến Deadwood Gulch để tìm kiếm vàng sau khi sự nghiệp của ông kết thúc. Giống như rất nhiều người khác, ông ta dành nhiều thời gian trong phòng đánh bạc hơn là đi kiếm vàng. Ông bị sát hại khi đang chơi bài poker ở đó vào năm 1876. Thị trấn cũng là quê hương của những huyền thoại khác của miền Tây nước Mỹ, bao gồm Deadwood Dick và Calamity Jane.

Một số người cấp tiền vàng để định cư ở những vùng đất mới, bao gồm Úc, Canada và Alaska. Nhưng những người khác cho rằng nó không đáng để gây ra những hậu quả bi thảm mà lòng tham vàng gây ra cho người dân bản địa và những người khác. Chuyên gia về vàng Robert Boyle đã viết rằng việc tìm kiếm vàng đã dẫn đến “sự đối xử tồi tệ nhất đối với con người từng được nghĩ ra”.

Các cuộc va chạm vì vàng vẫn xảy ra trong thời hiện đại. Nhưng những vụ giẫm đạp của thế kỷ 19 đã vĩnh viễn biến mất. Những nơi có thể dễ dàng khai thác vàng phần lớn đều đã được tìm thấy. Và chỉ có các công ty khai thác mỏ mới có công nghệ nạo vét một lượng lớn đất để lấy một lượng vàng rất nhỏ. Có thể phải lấy 15 tấn đá từ lòng đất để tạo ra một ounce vàng.

Lòng tham vàng tiếp tục gây ra hậu quả bi thảm nhưng nạn nhân chính là môi trường. Khai thác vàng khoét sâu đất và làm tăng xói mòn. Và vì hóa chất được sử dụng để chiết xuất vàng từ đá nên một lượng lớn đá khai thác phải được xử lý như chất thải độc hại.

Mỏ vàng lớn nhất thế giới nằm ở các khu rừng nhiệt đới ở New Guinea. Hơn 100.000 tấn chất thải từ khai thác vàng được đổ xuống sông địa phương mỗi ngày. Chất thải không chỉ giết chết cá và các động vật khác mà còn phá hủy ngôi nhà của một bộ tộc thời đồ đá tên là Amungme.

Phần lớn vàng trên thế giới đến từ Nam Phi và Nga. Chỉ một phần trăm nhỏ trong số đó đến từ Mỹ và Canada. Nhưng vẫn có những người đào vàng trên các dòng suối và đạt được một số thành công. Số lượng của chúng tăng lên bất cứ khi nào giá vàng tăng.

Tốt như vàng

Do cơn sốt vàng của thế kỷ 19, nhiều quốc gia trên thế giới bắt đầu áp dụng chế độ bản vị vàng. Điều này có nghĩa là họ đảm bảo rằng tiền của họ được hỗ trợ bởi một lượng vàng nhất định trong kho bạc của đất nước. Người dân có thể đổi tiền lấy vàng bất cứ khi nào họ muốn.

Các nền văn hóa cổ xưa sử dụng tiền vàng đã có tiêu chuẩn vàng thực sự đầu tiên. Vào đầu thế kỷ 19, hầu hết các quốc gia đều sử dụng tiền bạc và bảo đảm tiền giấy bằng bạc. Nhưng khi vàng trở nên dồi dào hơn, nó trở thành tiêu chuẩn.

Ở Mỹ, chế độ bản vị vàng đã sụp đổ trong cuộc Đại suy thoái những năm 1930. Những người dân hoảng sợ đã cố gắng đổi tiền lấy vàng hàng loạt. Các ngân hàng không thể đáp ứng tất cả các yêu cầu. Vì vậy, vào năm 1934, Hoa Kỳ đã chấm dứt chế độ bản vị vàng và cấm mọi người sở hữu vàng bằng tiền tệ. Chính phủ đã thu thập tất cả số tiền vàng trong nước và cất giữ tại Fort Knox ở Kentucky.

Năm 1975, việc sở hữu vàng trở lại hợp pháp. Người ta mua nhiều vàng đến mức giá của nó tăng lên 620 USD/ounce vào năm 1980. Vào năm 1970, giá vàng chỉ có 35 USD/ounce.

Nhiều người đầu tư vào tiền vàng như một biện pháp bảo vệ khỏi những biến động kinh tế và họ vẫn tiếp tục làm như vậy cho đến ngày nay. Họ biết rằng tiền giấy có thể giảm giá trị do lạm phát, nhưng vàng sẽ luôn có giá trị đơn giản vì nó là vàng.

Trong thời hiện đại, con người đã tìm ra rất nhiều cách sử dụng vàng bên cạnh chức năng tiền của nó. Cả công nghiệp và y học đều có ứng dụng cho vàng triclorua hòa tan trong nước. Dung dịch lỏng này rất hữu ích trong việc mạ kim loại và làm thuốc. Ví dụ, vào năm 1890, một bác sĩ người Đức đã sử dụng dung dịch vàng để điều trị bệnh lao, một căn bệnh nghiêm trọng và phổ biến vào thời điểm đó.

Một thập kỷ sau, các bác sĩ phát hiện ra rằng dung dịch vàng thực sự không có tác dụng nhiều đối với bệnh lao. Nhưng các giải pháp dường như đã làm giảm đau ở những bệnh nhân bị viêm khớp. Ngày nay, khi mọi biện pháp đều thất bại, trichloride vàng vẫn được sử dụng để điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp. Nhưng những người làm y tế không biết nó hoạt động như thế nào.

Các bác sĩ cũng sử dụng hợp chất vàng trong các trường hợp đặc biệt như loét, ung thư, bệnh tim và thậm chí một số dạng bệnh tâm thần. Vì vậy, các nhà giả kim ít nhất đã đúng phần nào về khả năng chữa bệnh của vàng. Vì lý do này mà các nhà châm cứu Trung Quốc cổ đại đã sử dụng kim vàng và một số nhà châm cứu hiện đại vẫn sử dụng chúng.

Hầu hết các ứng dụng của vàng ngày nay đều liên quan đến khả năng dẫn điện của nó. Việc sử dụng nó trong điện tử thực sự bắt đầu bằng quá trình in ấn. Năm 1903, mực gốc vàng được phát triển như một cách in trang trí và nghệ thuật bằng vàng trên sách và các bề mặt khác.

Sau này phương pháp này được sử dụng trong các mạch in, mạch điện in trên bảng mạch. Mực dùng cho mạch in thực chất có chứa hợp kim vàng với niken hoặc bạc. Nó được sử dụng trên các tiếp điểm điện, nơi hai bộ phận chạm nhau để tạo kết nối điện. Vàng là vật liệu tiếp xúc lý tưởng vì nó dẫn điện rất tốt và chống ăn mòn.

Các điểm tiếp xúc bằng vàng được sử dụng để lắp ráp bóng bán dẫn đầu tiên trên thế giới. Transistor là thành phần điện cơ bản của máy tính và các thiết bị điện tử khác. Ngày nay, ngành công nghiệp điện tử là ngành sử dụng vàng nhiều: hơn 95% tất cả các điểm tiếp xúc điện trong máy tính và mạch tích hợp đều được mạ vàng để đảm bảo độ tin cậy cao nhất.

Các điểm tiếp xúc mạ vàng còn được sử dụng ở túi khí, các thiết bị an toàn đặt trên nhiều ô tô. Khi cảm biến phát hiện va chạm, chiếc túi sẽ phồng lên như một tấm đệm giúp người lái xe không va vào kính chắn gió. Các điểm tiếp xúc của cảm biến phải được làm bằng vàng để giữ cho túi khí hoạt động ổn định từ 10 đến 15 năm.

Vàng thậm chí còn được sử dụng rộng rãi hơn trong các mạch khuếch đại tín hiệu từ vệ tinh và tàu vũ trụ ở xa. Vì tín hiệu quá yếu nên chúng phải được khuếch đại hàng tỷ lần. Bất kỳ sự ăn mòn hoặc tạp chất nào trong mạch đều có thể phá hủy tín hiệu.

Khả năng phản chiếu ánh sáng của vàng được đưa vào sử dụng trong thiết bị không gian. Bức xạ mạnh từ mặt trời bắn phá các phi hành gia và thiết bị không gian vì không có bầu khí quyển để bảo vệ. Một màng mỏng phủ vàng mũ bảo hiểm, tấm che mặt, dây buộc, động cơ tên lửa và hệ thống điện tử.

Vàng là một chất phản xạ tuyệt vời đến nỗi một tấm phim mỏng chỉ 6 phần triệu inch cũng đủ để làm chệch hướng sức nóng thiêu đốt của mặt trời. Tuy nhiên, nó đủ mỏng để cho phép phi hành gia nhìn xuyên qua tấm che phủ vàng.

Cửa sổ nhuộm màu của nhiều tòa nhà cao tầng mới cũng có thể chứa vàng. Lớp phủ màu không chỉ làm giảm độ chói của mặt trời mà còn giúp giảm nhiệt. Như vậy, cần ít điều hòa hơn và lượng ánh sáng vào tòa nhà không thay đổi.

Một loại phim vàng khác được sử dụng trong các tòa nhà có mức độ an ninh cao để che chắn các tín hiệu điện tử mà kẻ thù có thể gửi đi nhằm mục đích do thám.

Khả năng phản chiếu của vàng được phát huy tác dụng trong các lò nướng công nghiệp để giữ nhiệt và tiết kiệm năng lượng.

Phim vàng bảo vệ các hộp mạch điện tử khỏi các vụ nổ bức xạ vũ trụ và mặt trời. Bức xạ này có thể khiến các thiết bị điện tử tinh vi như vậy bị hỏng.

Bản thân tính chất hóa học của vàng đang có một bước chuyển mới đáng ngạc nhiên. Hầu hết các kim loại đều có thể đóng vai trò là chất xúc tác, giúp các phản ứng hóa học diễn ra nhanh hơn và chậm hơn. Vì vàng là một vật liệu không phản ứng nên các nhà hóa học chưa bao giờ nghĩ đến việc sử dụng nó làm chất xúc tác. Nhưng các nhà nghiên cứu tại Đại học bang Pennsylvania đã tìm ra cách.

Nếu những hạt vàng rất nhỏ được lắng đọng trên một vật liệu gọi là titan dioxide, nó dường như hoạt động như một chất xúc tác tuyệt vời cho một số phản ứng quan trọng. Ví dụ, nó có thể giúp chuyển hóa carbon monoxide độc ​​hại thành carbon dioxide.

Khả năng chống lại sự thay đổi hóa học của vàng đặc biệt hữu ích trong một lĩnh vực nha khoa gọi là phục hồi răng. Hầu hết các chất trám răng đều được làm từ hợp kim bạc và thủy ngân. Vì hợp kim có thể bị ăn mòn dần dần nên vàng được sử dụng khi phải thay thế toàn bộ chiếc răng. Trên toàn thế giới, các nha sĩ sử dụng gần 2 triệu ounce vàng cho mục đích này mỗi năm.

Để làm cho miếng trám trông giống như một chiếc răng, các nha sĩ phủ vàng bằng sứ – một chất liệu cứng giống như men. Nhưng ở một số quốc gia, đặc biệt là ở Nam Mỹ, nụ cười có miếng trám vàng và thậm chí cả hàm răng bọc vàng là điều đáng tự hào.

Vì vậy, ngay cả ngày nay vàng cũng đại diện cho vẻ đẹp, sự giàu có và hoàn hảo tối thượng. Trong lớp học ai cũng biết sao vàng là nhất. Trong Thế vận hội, các vận động viên phấn đấu giành huy chương vàng để chứng tỏ rằng họ đang đứng đầu môn thể thao của mình trên thế giới. Và các cặp đôi trao cho nhau nhẫn cưới vàng tượng trưng cho một cuộc hôn nhân sẽ kéo dài mãi mãi.

Lịch sử đã dạy chúng ta rằng nếu lòng tham xâm nhập thì vàng có thể mang lại điều tồi tệ nhất cho con người. Tuy nhiên, như các nhà giả kim thực sự đã biết, vị thần vàng cũng có sức mạnh truyền cảm hứng để chúng ta trở thành người giỏi nhất có thể.

3.

Tối qua trên Newsfeed của mình chạy ra hình ảnh hai cháu học sinh lớp mười hai chụp hình ở sân trường trong một ngày Xuân ngập tràn nắng.  Bức hình rất đẹp và những dòng nhật ký của các cháu cũng rất hay. Cháu trai chững trạc ở tuổi 18 và cháu gái mang cái tên đầy ý nghĩa của một nữ nhà thơ mà mình mến mộ: Đóa Quỳnh mùa Xuân.

Nhìn các cháu mình lại nhớ đến các bài thơ tình yêu của nữ thi sĩ, những bài thơ tình vừa trong sáng vừa da diết, vừa hồn nhiên lại vừa đắm say của một người phụ nữ tài hoa “Tự hát” bằng cả trái tim mình:

Chả dại gì em ước nó bằng vàng
Trái tim em, anh đã từng biết đấy

Anh là người coi thường của cải
Nên nếu cần anh bán nó đi ngay

Vàng đẹp và quý và hiếm, đến giàu có như vua Midas, trong nhà chả thiếu gì vàng mà vẫn còn khát khao rằng tất cả mọi thứ quanh ông ta đều phải lấp lánh ánh kim.

Tuy vậy với những người  coi thường vật chất như người yêu của nàng, thì những thứ như vàng chỉ đơn giản là vật có giá trị trao đổi. Nó không quý đến mức phải khư khư ôm lấy như lão hà tiện, đến chết vẫn không buông. Nó không đắt đến mức phải bất chấp tất cả để hòng chiếm đoạt.

Nàng biết thế nên không ước trái tim mình bằng vàng, và càng không mong nó là mặt trời tỏa sáng.

Em cũng không mong nó giống mặt trời
Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống
Lại mình anh với đêm dài câm lặng
Mà lòng anh xa cách với lòng em

Nàng chỉ mơ những điều thật giản dị,  rằng

Trái tim đơn giản là trái tim,

mỗi nhịp đập của nó là những thổn thức khó bật thành lời

Trái tim đơn giản là trái tim,

biết khao khát, biết xúc động,

biết yêu và được yêu

Em trở về đúng nghĩa trái tim
Biết làm sống những hồng cầu đã chết
Biết lấy lại những gì đã mất
Biết rút gần khoảng cách của yêu tin

Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
Biết khao khát những điều anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêu

Mùa thu nay sao bão giông nhiều
Những cửa sổ con tàu chẳng đóng
Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh

Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn

Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

(Xuân Quỳnh)

Những cơn gió mùa Xuân là những kẻ lang thang có mục đích lớn lao và nó sẽ trở lại vào bài viết sau với câu chuyện về những loài cây và lại tiếp tục mạch chuyện về Waldemar Daa và các cô con gái

Còn giờ thì hãy khép cửa lại và gió sẽ thay lời ru đưa bạn vào giấc ngủ !

Good night & Have a nice dream!

You may also like

Để lại bình luận