(1)
Con chim bồ câu bé nhỏ
Có mẹ vào, con gái lại tăng cân vù vù :)). Số mình “khổ”, nhỏ thì sống nhiều với ông ngoại, vốn là một chủ nhiệm nhà ăn, nên nấu ăn thì miễn chê rồi. Suốt đời ông chỉ lụi cụi trong bếp, ông lại còn biết làm thơ, cháu vừa được ăn cơm ông nấu lại vừa được nghe thơ ông đọc nên cứ là đánh chén tì tì :)).
Lớn thì cả bố và mẹ mình đều nấu ăn ngon nên cái sự tròn chả bao giờ mà vơi đi được :)). Mình nấu ăn theo kiểu nghĩa vụ còn bố mẹ chắc nấu bằng cả niềm đam mê nên mình thấy món nào họ làm cũng ngon hơn mình :)). May quá mình thoát ly khỏi nhà sớm chứ không chắc giờ vừa đi vừa lăn mất, bao tội nợ lại đổ lên đầu bố mẹ vì cái tội ai bẩu các cụ nấu ăn ngon quá làm chi :))
Mấy hôm trước nhà mình hết vừng lạc, món ăn yêu thích của con gái mình. Thế là mẹ mình lại rang lạc giã vừng, làm mấy lọ để đó cho cháu. Những hạt vừng đen, vừng vàng bé xíu chắc mẩy chỉ đảo qua chút xíu là đã tỏa ra một mùi thơm phức rồi. Vừng là một loại ngũ cốc mà khi rang chín có mùi thơm dễ chịu vô cùng. Cùng với hạt cà phê rang mình nghĩ phải xếp vừng rang vào hàng những hạt có hương thơm quyến rũ kiểu có thể làm “đổ” cả trái tim và…dạ dày, nhất là vào mùa đông (tức đã ngửi là chỉ muốn ăn hay uống ngay :)).
Những hạt vừng sau khi được rang chín tới trên ánh lửa, mẹ đổ ra một cái rổ xinh và để một lúc cho đến khi chúng chỉ còn hơi âm ấm thì cho vào cối giã. Vừng càng được giã nhỏ bao nhiêu thì mùi thơm lại càng như đậm đà bấy nhiêu. Mẹ giã cho đến khi những hạt vừng đã hóa thành lớp bột mịn thì bà dừng tay, ghé miệng thổi qua cho lớp vỏ mỏng trong đó bay ra ngoài.
Đó là vào một buổi sáng đầu Xuân. Trời vẫn còn se lạnh, dù những tia nắng ấm áp đã tràn cả vào căn phòng nhỏ của mình. Trái ngược với sự im ắng của không gian xung quanh: Cả dãy gần chục căn hộ chỉ có nhà mình là có người ở nhà. Tết, mọi người đều về quê cả.
Những lớp vỏ vừng phất phơ bay trong dòng nắng trước khi nhẹ nhàng chạm xuống mặt sàn. Nhịp chày đã ngừng lại nhưng đột nhiên xung quanh ồn ào bởi tiếng vỗ cành và tiếng kêu “gù gù”. Một con chim bồ câu mảnh mai trắng muốt đã sà xuống bậu cửa ban công. Rồi lại một con chim nữa, con này màu xanh xám và tròn ú.
Chẳng e dè khi mẹ mình là người lạ, chúng đủng đỉnh đi vào nhà đến chỗ lớp vừng vãi dưới sàn và thản nhiên mổ những chiếc mỏ nhỏ xíu xuống chỗ đồ ăn.
-Ơ bọn chim này tự nhiên thế nhỉ, thế chúng mày không sợ tao à ?
Mình nghe mẹ lẩm bẩm. Bà đứng lên trút những hạt vừng đã giã vào lọ. Hai con chim đúng là chẳng biết sợ là gì, chúng vẫn tiếp tục công việc lấp đầy cái dạ dày rỗng buổi sáng của chúng. Nghĩ thế nào, mẹ đổ một ít vừng từ lọ ra lòng bàn tay và vãi xuống nơi hai con chim đang ăn khí thế. Có nhiều đồ ăn hơn, chúng lại càng thêm bạo dạn. Chỉ một lúc những bụi vừng đã được dọn sạch.
-Những con chim này ở đâu đến hả con ?
Mẹ hỏi mình. Nhưng mình cũng chẳng biết. Chỉ thấy bỗng nhiên một ngày có một, hai con đến bậu trên thành tường của tòa nhà mình sống. Rồi sau đó có thêm một hai con nữa nhập bầy. Và bây giờ cả đàn là khoảng 6 con. Mới đầu, mình thấy chúng chênh vênh trên gờ tường. Dần dà, bạo dạn hơn chúng bay xuống ban công nhà mình. Rồi bạo dạn hơn nữa, chúng sà xuống sân ban công uống nước, tìm đồ ăn trong bịch rác mà mình treo cạnh vòi nước.
Rồi hơn nữa, chúng ngó nghiêng vào phòng bếp nhà mình và khi không thấy ai phản ứng gì thì chúng bắt đầu lò dò đi vào phòng, cái đầu chúng lắc lư thật mắc cười khi cái mắt tinh anh của chúng tăm tia những đồ ăn rơi vãi dưới chân bếp. Khi quen rồi là chúng bắt đầu ‘quậy’, chúng nhảy cả lên mặt sàn bếp của mình, sà xuống bồn rửa bới móc những hạt gạo còn sót lại, nhảy lên cái nồi cơm rỉa vài hạt đã khô dính ở thành ngoài.
Thế là đủ rồi đấy, lũ chim này. Mình đứng lên tiến đến gần chúng thế mà chúng có sợ đâu, còn giương mắt lên nhìn mình. Phải khi mình tạo tiếng động bằng cách vỗ mạnh hai bàn tay vào với nhau thì chúng mới vỗ cánh bay đi.
Một lần, buổi trưa mình nấu món bún. Làm xong chạy xe đến trường đón con. Và khi trở về thì thôi rồi Lượm ơi. Đĩa bún đặt trên bàn đã tơi tả, chim với chả cò đã làm cho tung tóe hết cả. Tức lắm rồi đấy, nhưng khi nhìn thấy cái mặt ngây thơ vô số tội của chúng, lúc này đã no nê đứng rỉa lông cánh bên song cửa nhà đối diện, thì sự điên tiết chợt giảm đi phân nửa.
Thế là lần sau, biết đường đi đâu cũng phải đóng cửa chính ngoài ban công. Nhưng lũ chim này khôn kinh khủng. Chúng mò đâu ra được đường khác bằng cách đi qua khoảng hở những chấn song ở phòng giặt đồ, rồi từ đó qua cửa ngách lại lần mò vào phòng khách nhà mình. Để được yên thân, lần sau nữa đi ra khỏi nhà lại phải đóng lớp cửa đó lại. Kín như bưng, thế mới hết đường “xâm nhập” của những “tên trộm” rắc rối.
-Mẹ phát hiện ra chim bồ câu rất thích ăn vừng nhé! Này, con ra nhìn đi để thấy được độ thông minh của chúng
Mẹ chỉ cho mình chú chim bồ câu trắng, mà mẹ bảo là chim đực. Công nhận mẹ giỏi, mới vào mấy ngày đã biết con chim nào đực con chim nào cái chứ mình ở cả năm với chúng mà chịu, chả phân biệt được :)). Lại nhớ đến lời bà ngoại mình khi xưa: “Con ruồi bay qua bà cũng biết con nào đực con nào cái”. Gớm gớm là, chả trách chi khi xưa cụ ca bài ca mất gà hay thế cơ chứ, làm cháu gái cụ chăm chú lắng nghe hơn cả nghe cô giảng Văn :)).
Con chim trắng cứ quanh quẩn bên cái rổ mẹ úp trên rá vừng mẹ phơi khô để mai rang. Nó nhất định không chịu ăn những hạt cơm mẹ mình để sẵn cho nó ở cái khay bên cạnh rá vừng. Cố gắng dùng cái mỏ lật cái rổ lên không được nó lại dùng đến cái cẳng chân khẳng khiu. Cái rổ nặng hơn nó tưởng nhiều và với sức yếu ớt của nó thì đành bất lực. Nó gù gù quanh cái rổ, một lúc sau thì con chim xám bay đến, chắc để hỗ trợ bạn. “Một cây làm chẳng lên non”, có hai con khác hẳn. Chiếc rá chao nghiêng rồi rơi phịch xuống nền ban công. Món ăn yêu thích giờ đã hiện ra trước mắt chúng và chẳng chờ đợi gì nữa chúng thò mỏ vào chén ngon lành.
Khi đã no nê, chúng ngoái lại nhìn chúng mình, như để nói lời cám ơn, rồi đập cánh bay lên cao, qua khỏi phạm vi của tòa nhà, sang khu đất trống phía xa. Khu đất mà thi thoảng mình vẫn thấy dập dờn vài cánh cò trắng
Con chim bồ câu bé nhỏ
Bay qua vùng trời, vùng trời mùa xuân
Những con chim bồ câu nơi cửa sổ nhà tôi
By Johnstone, Ruth A
Khi còn là một cô bé, tôi thường thắc mắc về tình yêu thương của người mẹ thân yêu của tôi dành cho con chim hoàng yến yêu quý của bà, Dick, mà bà thường nán lại bên lồng với sự quan tâm vuốt ve. Tôi đã từng nhìn và ngạc nhiên; bởi vì, mặc dù tôi là một người rất yêu thú cưng, đặc biệt là một con chim trong lồng, nhưng ý nghĩ về việc nuôi nhốt ám chỉ tâm trí tôi sự bất hạnh đối với con chim nhỏ bị nhốt trong lồng.
Ý tưởng của tôi về thú cưng là thứ mà tôi có thể ôm và chơi cùng – một thú cưng bị thu hút hơn là một con vật cưng bắt buộc: một con vật sẽ thuộc về tôi theo ý muốn của nó, thông qua tình cảm. Tôi rất yêu quý chú chó Trooper trạc tuổi tôi và gần như rất đau khổ vào buổi sáng người ta phát hiện nó đã chết trong vườn nhà chúng tôi, bị đầu độc bởi những tên trộm đột nhập vào ngôi nhà liền kề suốt đêm. Và tôi nghĩ đó là một sự kiện rất trang trọng khi ‘Người lính được chôn cất gần bụi hoa hồng yêu thích của tôi, và tôi chắc chắn rằng một vài giọt nước mắt đã hòa lẫn với những chiếc lá hoa hồng rải trên mộ của nó.
Tôi cũng vô cùng yêu quý con mèo xám Queechy của chúng tôi và tất cả những chú mèo con xinh đẹp của nó, và rất vui khi ôm chúng vào lòng và đặt tên chúng theo một loài hoa. Con màu trắng là “Lily”, con có đôi mắt màu tím là “Pansy” và con mắt xanh là “Blue-Bell”. Nhưng tôi nghĩ con vật tôi thích nhất là con nhỏ màu đen với bàn chân trắng, mà mẹ tôi gọi là “Topsy”, coi nó là một cái tên thích hợp, đặc biệt khi bà đang đọc “Túp lều của bác Tom” vào thời điểm đó.
Khi tôi lớn lên, chú ngựa con đen xinh đẹp của tôi, Gipsy, chiếm phần lớn tình cảm của tôi; và khi nó lấy một cục đường từ tay tôi và nhai nó một cách vui vẻ, tôi có thói quen quàng tay qua cổ nó, tựa mặt vào mái tóc bóng loáng của nó; một sự quan tâm mà nó dường như đánh giá cao, vì nó luôn luôn, sau khi nhận được đường, cúi cái đầu duyên dáng về phía tôi để nhận được sự vuốt ve mong đợi.
Vào khoảng thời gian này, người thầy âm nhạc của tôi muốn tặng tôi một con chim hoàng yến xinh đẹp để tán thành sự tiến bộ về giọng hát của tôi; nhưng tôi đã từ chối món quà một cách lịch sự nhất có thể, giải thích cho thầy về sự ác cảm mà tôi luôn có đối với một con vật nuôi trong lồng, quan niệm của tôi về việc con chim là một vật bổ sung đẹp như tranh vẽ cho cành cây.
Và bây giờ, sau nhiều năm trôi qua, khi tôi đã kết hôn được một thời gian dài, những con vật cưng thân yêu nhất của tôi là những con chim bồ câu hoang dã đã được thuần hóa trước cửa sổ nhà tôi, chúng tự nguyện đến với tôi, tự nguyện trở thành những con vật cưng.
1.
Một con chim bồ câu u buồn
Tôi đã bị thu hút bởi Vùng Tây của New York từ lâu, và sau khi cư trú ở Phía Đông của thành phố vài năm, chúng tôi chuyển đến một khách sạn cao tầng nhìn ra Sông Hudson tráng lệ, chọn một căn hộ ở góc đầy nắng, cao hơn những ngôi nhà ở bình thường. Chúng tôi chuyển đến vào đầu mùa xuân, và vì căn hộ chúng tôi chọn chưa hoàn thiện nên chúng tôi đã thuê một căn hộ liền kề trong hai tuần.
Một buổi sáng, chúng tôi nghe thấy tiếng thủ thỉ nhẹ nhàng và buồn thảm bên ngoài một trong những cửa sổ lớn, và phát hiện ra một con chim bồ câu màu xám nhạt rất đẹp với đôi mắt màu hổ phách đầy đăm chiêu. Chú chim đã cho chúng tôi nghe những lời than phiền thảm hại của chú và chúng tôi đưa cho chú một ít đồ ăn vụn, và chú chim đã ăn, nhưng không có vẻ háo hức chút nào.
Mỗi ngày chú chim đến đó, với bài hát buồn thảm của mình, hô vang “Coo Coo-Coo!” và tôi cho nó ăn thường xuyên, mặc dù nó chưa bao giờ có vẻ đặc biệt đói; tạo ấn tượng rằng chú ta đang tìm kiếm một thiên đường nghỉ ngơi yên bình hơn là tiện nghi vật chất.
Một ngày nọ, trời rất lạnh, mặc dù niên lịch ghi rằng chúng tôi đang ở giữa mùa xuân và thậm chí có vài bông tuyết bay vào, đậu trên cửa sổ mà “Coo” đã chọn làm nơi ở của mình. Với mong muốn làm cho nó thoải mái, tôi bố trí một số vỏ bào làm tổ, đặt nó ở một góc có mái che trên bậu cửa sổ lớn.
Nhưng Coo nhìn nó với vẻ nghi ngờ, tránh xa nó. Tôi cũng đặt một chiếc bình thấp chứa đầy nước gần chỗ những mảnh đồ ăn vụn của chú, nhưng chú chim từ chối tận dụng nó, thích bay vào cửa sổ phòng tắm và làm dịu cơn khát của mình trong bể nước. Chú chim luôn ở một mình – Coo bé nhỏ thân yêu, và sau đó tôi biết rằng chú chim có lẽ là một con chim bồ câu tang Carolina.
Khi căn hộ của chúng tôi đã xong, chúng tôi chuyển đến đó, tự hỏi Coo sẽ ra sao, hy vọng những người ở sau sẽ tử tế với chú. Nhưng trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, ngày hôm sau Coo đã đứng ở một trong những cửa sổ, hót vang “Coo-Coo,” theo cách ngọt ngào quen thuộc và chúng tôi chào đón chú một cách thân mật nhất.
Nhưng Coo xinh đẹp của chúng tôi nhất quyết đòi vào trong nhà, mặc dù thời tiết bây giờ đã dịu mát hơn. Chú thích chúng tôi đến gần, nhưng lại bực bội khi bị chạm vào; và cách duy nhất của chúng tôi để yêu cầu chú rời khỏi phòng là giả vờ bế chú trên tay, lúc đó chú ta sẽ nhanh chóng bay ra khỏi cửa sổ.
Tôi đã nuôi rất nhiều chim bồ câu ở cửa sổ kể từ khi Coo đến, và tất cả chúng đều bay đi khi mặt trời lặn, mỗi con có một ổ đặc biệt để qua đêm. Tuy nhiên, với Coo thì không như vậy, vì khi chú đến cửa sổ nhà chúng tôi được vài ngày, chú ta nhất quyết muốn vào vào lúc hoàng hôn và đậu trên bể nước trong phòng tắm của chúng tôi.
Sáng sớm chú sẽ bay đi chơi, tôi rất tiếc phải nói rằng, phòng tắm trong tình trạng rất thiếu nghệ thuật. Vì mặc dù phân của chim bồ câu không có mùi nhưng chắc chắn chúng không có tác dụng trang trí; và tôi đã dành nhiều thời gian để dọn dẹp Coo xinh đẹp của mình.
Chúng tôi không thích đuổi chú ta ra ngoài, và tôi đã thử che tấm thảm tắm, bồn tắm, vân vân, bằng một tấm khăn trải giường, nhưng ngay cả sự sắp xếp này cũng không thành công. Vì tôi không thể nghĩ ra cách nào để giữ gìn sự sạch sẽ trong khi chứa chấp Coo nên cuối cùng tôi quyết định rằng chú ta phải tìm một nơi trú ẩn thích hợp hơn. Vì chú chim vẫn kiên quyết vào, nên mỗi buổi tối, với sự miễn cưỡng hết sức, chúng tôi đặt một rào chắn hình bình đựng nước đá ở giữa bệ cửa sổ phòng tắm, với cửa sổ đóng một phần.
Coo xinh đẹp phẫn nộ trước sự thiếu hiếu khách này và đã rời bỏ chúng tôi mãi mãi.
2.
Cô Dâu và Chú Rể và “Nhà Pointies”
Một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo và tươi sáng, bác sĩ gọi tôi vào phòng khách để ngắm cảnh đẹp. Trên bậu cửa sổ rộng phía nam, hai con chim bồ câu xinh đẹp đang phơi nắng, hôn hít và thủ thỉ cùng nhau. Chúng có vẻ là những con chim bồ câu non, có lẽ vừa mới giao phối.
Con chim đực có màu đen tuyền, ngực trắng như vạt áo trước, mắt màu vàng. Bạn đời của nó có màu trắng tinh khiết, đôi mắt to, đen, sáng và chiếc mỏ màu hồng. ‘Chúng là một cặp đẹp đôi và có vẻ say mê nhau. Tôi đặt tên cho chúng là Cô Dâu và Chú Rể, gọi riêng chúng là “Blackie” và “White Wings” (Cánh đen và Cánh trắng). Chúng tôi chiêm ngưỡng chúng qua khung cửa sổ đóng kín một lúc, và ngay sau đó chúng bay đi.
Tôi khá ngạc nhiên khi nhìn thấy chúng ở cùng một cửa sổ vào ngày hôm sau, và sau đó một cặp bồ câu con khác, có lẽ mới được giao phối, cũng xuất hiện, cùng nhau phơi nắng vui vẻ. Con chim đực có màu đá phiến, đặc điểm nổi bật của nó là chiếc mỏ nhọn, gần như mảnh như sợi dây ở phần cuối. Màu quanh cổ nó là sự pha trộn tuyệt đẹp giữa màu xanh lá cây và màu đỏ thẫm, màu mà nhiều loài chim bồ câu có.
Nó ngẩng cao đầu một cách ngạo mạn và nhìn chung là một con chim rất quý tộc. Vì chiếc mỏ rất nhọn của nó, tôi đã gọi nó là “Pointie”, một cái tên mà nó đã sớm quen thuộc và nó luôn đáp lại. Người bạn đời của nó nhỏ con hơn, trông rất bảnh bao, da sẫm màu hơn, với đôi mắt sáng khác thường nhìn vào mắt bạn với vẻ khá ngạc nhiên. Lông của cô chim ấy có màu sắc giống như phần lớn những con chim bồ câu hoang dã này, nhưng tôi không bao giờ có thể nhầm nó trong số hàng tá chim, vì đôi mắt sáng của cô chim này với biểu hiện mong đợi và ngạc nhiên.
Tôi rải những mẩu vụn bánh mì dọc bậu cửa sổ, và cả hai vợ chồng đều háo hức tham gia, và kể từ đó chúng đến đây hàng ngày; khoảng thời gian hơn ba năm, tại thời điểm viết bài này.
Tôi quan sát chúng vào lúc hoàng hôn, mong muốn xác định được nơi trú ẩn của chúng; và gia đình Blackies bay qua quảng trường đến một tòa nhà cao tầng, có “căn nhà ngủ” của chúng dưới một trong những mái hiên, ngang tầm với phòng khách của tôi; và từ cửa sổ phía đông của tôi, tôi có thể nhìn thấy chúng khi đang ngủ trưa hoặc đang ngồi ấp trứng. Gia đình Pointies có những khu ở ấm cúng bên dưới phòng thay đồ của tôi, và do đó tôi không thể nhìn thấy chúng sau khi chúng bước vào chuồng bồ câu.
3.
“Titian blonde” của tôi
Một ngày nọ, Blackies bay đến cùng với một con chim bồ câu nhỏ màu nâu đỏ mà tôi gọi là Titian Blonde, và đặt tên cho nó là “Brownie”. Tôi đã học được cách yêu mến con bồ câu nhỏ màu nâu đó biết bao, nó thường nói chuyện với tôi bằng đôi mắt biểu cảm và những cử động nhỏ đặc biệt của nó!
Một ngày khác, cô chim này bay vòng quanh cùng nhóm Pointies và cả ba cùng nhau ăn trưa rất vui vẻ; sau đó chúng dang rộng đôi cánh, vươn vai và nằm xuống tắm nắng. Nhưng Pointie ngẩng cao đầu đầy tự hào rằng ba người không có bạn, nên chú ta bước tới chỗ Brownie và hôn cô ấy.
Titian Blonde của tôi phẫn nộ với điều này bằng một nụ hôn đáp lại, nhưng sau một đòn tấn công sắc bén từ mỏ của Pointie, Brownie bé nhỏ của tôi đã ám chỉ rằng cô ta không muốn và bay đi. Ngày hôm sau, cô đến cùng nhà Blackies, và sau một thời gian, cô nhận được sự đối xử thiếu lịch sự tương tự từ chúng, và nhận ra rằng sự hiện diện của mình không được đánh giá cao, cô chim rời đi.
Vì vậy, năm con chim bồ câu của tôi đến mỗi ngày, chúng ở lại hầu hết thời gian. Thỉnh thoảng chúng bay đi để tập thể dục nhưng nhanh chóng quay trở lại. Tôi luôn chuẩn bị sẵn bữa ăn cho chúng và không bao giờ sợ làm chúng bị ốm vì cho ăn quá nhiều; vì tôi hiểu rằng, mặc dù chim bồ câu có khẩu vị rất tốt cho sức khỏe nhưng chúng không bao giờ ăn quá nhiều. Tuy nhiên, sau này tôi phát hiện ra rằng thực tế này chỉ áp dụng cho những con bồ câu già chứ không áp dụng cho những con bồ câu con.
Sau đó, có vẻ như sự thèm ăn của chim bồ câu tăng lên, vì sau một thời gian chúng dường như sẵn sàng ăn gần như cả ngày, điều này không xảy ra lúc đầu. Tuy nhiên, tôi sớm biết được lời giải thích cho sự phát triển rõ ràng về sự thèm ăn của chúng. Đó là do chim con được nuôi dưỡng bằng cách chim bố mẹ tiếp nhận chiếc mỏ nhỏ của chim con vào cái mỏ đã mở của nó, do đó cho chim non ăn thức ăn đã được tiêu hóa trước.
Kết quả là cha mẹ lại đói và tìm kiếm một bữa ăn khác, rồi bữa ăn khác nữa, và bữa ăn khác nữa. Nhưng khi bắt đầu tình bạn của tôi với những con chim bồ câu, chúng mới được giao phối và do đó không có con nhỏ nào để nuôi dưỡng.
Khi đó, khi cơn đói đã được xoa dịu, chúng sẽ từ bỏ mảnh thức ăn vụn của mình và vươn vai, hoặc nghỉ ngơi, hoặc rỉa lông. Lần duy nhất chúng có vẻ muốn ăn quá nhiều là khi những con chim bồ câu không phải bạn tình của chúng xuất hiện. Sau đó, tôi rất tiếc phải nói rằng, rõ ràng chúng ăn chỉ nhằm mục đích tước đoạt của những con chim bồ câu khác.
Chúng có một số bản năng đáng ngưỡng mộ: bản năng khiến tôi quý mến chúng là sự chung thủy với bạn tình, dường như không bao giờ dao động trước sự kiên định của chúng. Tôi đã nghe nói về một con chim bồ câu đau khổ bỏ đi sau cái chết của bạn tình, nhưng một sự việc thảm hại đến thế lại không được tôi chú ý đến. Chim bồ câu của tôi giao phối trở lại, và trong một số trường hợp vẫn giữ lại tổ cũ; ở những nơi khác, hãy tìm những cái mới. Từ thực tế sau, tôi suy ra rằng người bạn đời đầu tiên có thể đã nằm chết trên tổ cũ. Sau khi giao phối lại, chúng thể hiện sự chung thủy và tình cảm như nhau.
Tôi nghĩ con người chúng ta có thể học được một bài học từ những sinh vật có lông vũ nhỏ bé này.
4.
Những đặc điểm khác
Nhưng chúng cũng có những khuyết điểm, và tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng sự hung hãn của chúng đối với những con chim bồ câu khác ngoài bạn tình của chúng thật đáng ngạc nhiên. Tôi cũng ngạc nhiên trước sự thiếu tình cảm rõ ràng của chúng đối với con non, bỏ rơi con khi con còn nhỏ, nhất quyết đòi con phải tự mình di chuyển ngay sau khi chúng học bay. Tôi không thể dung hòa được bản năng này với lòng trung thành của chúng với bạn tình, sự háo hức xây tổ và sự chung thủy với trứng của mình.
Tôi cho rằng đó là mong muốn dạy cho những đứa trẻ khả năng tự lập. Tuy nhiên, mỗi ngày tôi lại được giải trí rất nhiều bởi năm con chim bồ câu của mình. Có một lần, tôi nhận xét với Bác sĩ về thói quen bay đi và nhanh chóng quay trở lại, và được biết rằng có lẽ chúng đi tìm đồ uống sau những mảnh vụn đồ ăn nhỏ.
Sau đó, tôi đặt một chậu mã não chứa đầy nước ở một góc bệ cửa, gắn nó vào móc mái hiên. Lúc đầu, chúng nhìn nó với vẻ thắc mắc, nhưng sau đó vượt qua sự nghi ngờ, chúng dường như đã nhận ra mục đích của cái chậu và chấp nhận nó với vẻ rất hài lòng. Sau đó tôi quan sát thấy rằng, không giống như hầu hết các loài chim, chim bồ câu giữ mỏ của chúng dưới nước cho đến khi uống xong.
Nó cũng thu hút những con chim bồ câu khác, chúng tận dụng sự sang trọng của một thức uống sạch đẹp, nhưng không bao giờ được những người sở hữu cho phép đậu trên bậu cửa sổ. Chúng dường như coi đó là “Quảng trường” của mình, nơi chúng thường đi khệnh khạng, duỗi người và rỉa lông, nói chung coi như ở nhà.
Nếu Pointies đến trước, chúng sẽ phẫn nộ với sự xuất hiện của Blackies, và ngược lại, mỗi cặp đều mong muốn được ở một mình cùng nhau; hoàn toàn không giống như cặp cô dâu chú rể mà tôi từng đọc, những người chọn một nơi biệt lập để đi hưởng tuần trăng mật, để chuyện tình lãng mạn của chúng có thể không bị xáo trộn. Sau vài ngày, cô dâu thốt lên: “Thật tuyệt vời nếu có một người bạn nào đó xuất hiện!” và chú rể cố nén một cái ngáp và trả lời: “Có, hoặc thậm chí là kẻ thù”. :))
Nhưng những người bạn bồ câu không cảm thấy buồn chán khi ở một mình với nhau, luôn bực bội với cách tiếp cận của người khác. Những lúc như vậy, những con chim đực sẽ có màn trình diễn rất nghiêm túc. Đó là một điệu nhảy chiến tranh nhỏ nào đó mà chúng thực hiện bằng cách xoay tròn, nhấc chân này rồi chân kia, xoay vòng sang phải, rồi sang trái, đồng thời thốt ra một âm thanh khàn khàn nhỏ giống như “Groo-groo-groo!”
Chúng tôi sớm biết rằng điều này có nghĩa là phản đối việc bất kỳ con chim bồ câu nào xâm chiếm lãnh thổ của chúng; và nếu lời cảnh báo không được chú ý, một cuộc mổ xẻ sôi nổi sẽ nhanh chóng xảy ra và được duy trì một cách mạnh mẽ.
Để khắc phục tình trạng này và duy trì hòa bình và hòa hợp trên Quảng trường, đôi khi tôi đặt một nguồn cung cấp các mẩu đồ ăn vụn ở một đầu và một ở đầu kia, gọi Blackies ở đây và Pointies ở đó. Sau đó tôi sẽ tự mình đưa cho bé Brownie của mình một ít. Mỗi con chim đáp lại lời kêu gọi của tôi, thế là chúng dùng bữa tối vui vẻ, đôi bạn thân thiết bên nhau.
Sẽ đẹp hơn nếu đặt cho chúng những cái tên lãng mạn, chẳng hạn như Romeo và Juliet, Paul và Virginia, Hero và Leander, v.v.; và có lẽ tôi đã nên làm như vậy nếu tôi đã nghĩ đến câu chuyện này. Nhưng vào thời điểm đó, tôi chỉ đặt biệt danh cho chúng để nhận dạng và vì chúng phản hồi nên tôi không thay đổi gì cả.
Người giúp việc của tôi rất ngạc nhiên trước sự thông minh của những chú chim khi đáp lại tên của chúng và kêu lên: “Ồ, thưa bà, chúng giống hệt như những người theo đạo Thiên chúa!” (nghĩa là con người).
Và một giọng nói từ chiếc ghế Morris cười nói thêm: “Đúng vậy, và chúng chiến đấu như những người theo đạo Cơ đốc!” (nghĩa là, tôi hy vọng, là con người).
5.
Nhà Butster
Một buổi chiều, tôi rút ngắn vài tiếng chuyện trò vui vẻ để vội vã về nhà với lũ bồ câu của mình. Tôi đã để lại một nguồn cung cấp dồi dào bánh vụn và nước uống ngon lành; nhưng đã quen với việc nhìn chúng uống nhẹ nhàng trước khi bay đi trong ngày, nên không muốn bỏ lỡ chương cuối. Tuy nhiên, tôi đã đến hơi muộn một chút vì mặt trời vừa lặn trên những ngọn đồi Jersey, để lại ánh sáng phản chiếu màu đỏ thẫm và vàng rực rỡ trên vùng Hudson lung linh khi tôi bước vào căn hộ của mình.
Không có chim bồ câu trên Quảng trường, nhưng vì thỉnh thoảng chúng lảng vảng quanh gờ đá nên tôi nghiêng người ra ngoài, nhẹ nhàng gọi “Coo-Coo-Coo,” như thói quen của tôi. Năm con vật cưng của tôi rõ ràng đã nghỉ đêm, nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, một con chim bồ câu lớn màu xám xanh được sắp xếp theo kiểu tóc xù, đã đáp lại lời kêu gọi của tôi.
Bác sĩ vừa bước vào phòng đã kêu lên: “Xin chào, Buster! bạn đến từ đâu?’ Và kể từ đó chúng tôi gọi chú ta là “Buster”, một tên gọi mà chú đã nhận ra rõ ràng, mặc dù người giúp việc của tôi gọi chú là “con bồ câu xanh lớn”.
Chúng tôi rải vụn bánh cho nó, và nó có vẻ rất cảm kích; Sau khi đã xoa dịu cơn đói và uống nước, chú chim bay lên một tòa nhà chung cư cao cách đó khoảng một dãy nhà, phòng ngủ của nó hướng ra một trong những cửa sổ phía Nam của chúng tôi.
Chú chim lại đến vào ngày hôm sau và đến thường xuyên kể từ đó. Nó tỏ ra là một con chim độc đoán, như những con chim bồ câu của tôi đã sớm phát hiện ra, đang cố gắng độc chiếm Quảng trường; và kết quả là nhiều cuộc chạm trán mang tính chất võ sĩ quyền anh.
Một ngày nọ, tôi phát hiện nó đang ăn uống vui vẻ với một chú chim bồ câu nhỏ gầy bên cạnh. Cô chim ấy là một sinh vật nhỏ bé có vẻ ngoài tuyệt vọng, người mới đến này, và tôi cho rằng Buster đã tha thứ cho cô ấy vì lòng thương hại tuyệt đối.
Nhưng ngay sau đó chú ta bắt đầu vuốt ve cô như mưa rào, dưới hình thức những cái hôn nhẹ nhàng quanh đầu và mắt cô, và cô đáp lại; do đó tiết lộ sự thật rằng họ là bạn tình. Và theo thời gian, chúng trở nên rất thú vị, khiến tôi quý mến bởi những đặc điểm gần như con người của chúng. Kính gửi ông Buster, người cha tốt bụng và người chủ trung thành của gia đình, và bà Buster bé nhỏ, người bạn đời tận tụy và người quản gia đầy nghị lực.
Cô chim nhanh chóng phát triển thành một trong những con chim bồ câu xinh đẹp nhất trên Quảng trường, trở nên bụ bẫm và bóng loáng. Màu sắc của cô rất giống với màu của Buster, màu xám xanh, giống như nhiều con chim bồ câu. Cô có thân hình rất mảnh khảnh, mặc dù cao gần bằng Buster, với đôi mắt đỏ như son.
Tôi nhanh chóng phát hiện ra con chim mỏng manh này có tính khí không tương xứng với thân hình nhỏ bé của nó, và lúc đầu tôi có xu hướng không thích nó, gọi nó là “con chồn cái nhỏ”. Mỗi ngày nó tấn công bánh hạnh nhân của tôi, đập cánh vào khuôn mặt nhỏ nhắn màu nâu và mổ thứ thức ăn này. Buster cũng tỏ ra không hào hiệp với Titian Blonde của tôi, xoay người trước mặt nó, cố gắng xua đuổi.
Chúng rõ ràng ghen tị với cô chim này, có lẽ nghĩ rằng tôi đã ưu ái cô quá nhiều, phân biệt đối xử với chúng. Khi đưa mẩu vụn cho Busters và gọi Brownie đến lấy phần của nó, Buster sẽ ngay lập tức rời khỏi cửa hàng của mình để điều tra xem Brownie có gì. Và, tôi phải thừa nhận, chú ta thường khám phá ra thứ gì đó ngon lành hơn ở chỗ Brownie: có lẽ là vụn bánh ngô nướng, hoặc một ít hạt đen được tìm thấy trong yến mạch, mà đôi khi tôi mua được từ chuồng ngựa.
Tuy nhiên, Brownie không sợ Buster và sẽ giữ vững lập trường của mình một cách không hề sợ hãi; nhưng nụ hôn của bà Buster chắc hẳn phải sắc bén hơn, vì Brownie dường như thực sự bị khủng bố khi bà Buster đến gần cô với đôi mắt lóe sáng. Và làm sao đôi mắt đỏ nhỏ đó có thể lóe lên sự giận dữ, và chúng trở nên dịu dàng và dịu dàng biết bao khi cô ở một mình với Buster, người mà cô vô cùng yêu thương!
Một ngày nọ, bà Buster làm cho cuộc sống của Brownie của tôi trở nên khốn khổ đến nỗi tôi gõ nhẹ vào đầu nó , quở trách, và bằng giọng âu yếm gọi Brownie đến với tôi, cho Brownie một món ngon. Nhà Busters hiểu rõ rằng chúng không được ưa chuộng; và một lúc sau, bà Buster lại tấn công chiếc bánh Brownie của tôi, ngay cả Buster cũng có vẻ xấu hổ về bà, và việc xoay vòng trước mặt bà khiến bà hiểu rằng bà phải rời khỏi Quảng trường, và khi bà nhanh chóng làm như vậy, người yêu của bà đã đi theo.
6.
Làm tổ
Brownie bé nhỏ có thói quen ngồi bên cửa sổ hầu hết thời gian. Blackies, Pointies và Busters sẽ đến và đi; nhưng Brownie là người bạn đồng hành thường xuyên nhất của tôi. Đôi khi chúng tôi dành cả buổi sáng một mình cùng nhau. Tôi sẽ ngồi gần cửa sổ – Cửa sổ Bồ câu mà chúng tôi thường gọi nó – với giỏ đựng đồ hoặc cuốn sách của mình, rồi Brownie và tôi cùng giải trí với nhau. Nếu đọc sách, thỉnh thoảng tôi sẽ nhìn lên và nói chuyện với nó, và nó sẽ đáp lại bằng cách tiến lại gần hơn một chút.
Nếu bận rộn với công việc, tôi sẽ hát cho nó nghe, những lời ngẫu hứng về một chú chim bồ câu nhỏ màu nâu mà tôi yêu quý. Những mảnh vụn luôn được rải cho nó, nhưng tôi thường bị quyến rũ khi nó đến gần và dỗ dành hạt đen nhỏ mà nó dường như hiểu là dành riêng cho mình.
Nó hoàn toàn là một con chim bồ câu nhỏ rất hấp dẫn, và tôi đã quá quen với việc nhìn thấy chú chim con này một mình đến nỗi tôi rất ngạc nhiên, vào một ngày đẹp trời đầu mùa xuân, khi nó bay tới cùng với một con chim bồ câu đen lớn hơn nó rất nhiều.
Tôi đưa cho nó những mẩu đồ ăn vụn, như thường lệ, và nó chia sẻ với người bạn đồng hành của mình, người được chào đón một cách hiếu khách nhất bởi những con chim đực đã có mặt trên Quảng trường cùng với bạn tình của chúng. Brownie đứng bên cạnh chú chim kia, cố gắng bảo vệ anh ta khỏi những kẻ xâm lược, và anh chim mới đã thành công trong việc có một bữa ăn ngon bất chấp những tiếng “Groos” phản đối đang dội vào anh.
Brownie bé nhỏ của tôi đã giao phối, giới thiệu với Quảng trường sự lựa chọn của trái tim cô ấy; và từ đó bốn cặp vợ chồng cố gắng chiếm hữu nơi này; những con chim đực là những chiến binh mạnh mẽ. Hôm nay người này sẽ là kẻ chinh phục, ngày mai người khác sẽ là người chiến thắng, v.v.; danh hiệu võ sĩ quyền anh được chia đều.
Ngay sau đó, tôi nhận thấy Brownie của mình, ngày xưa, vẫn đến một mình vào mỗi buổi sáng, và tôi tự hỏi liệu người bạn đời của nó có tỏ ra không xứng đáng hay không và mối tình lãng mạn nho nhỏ của nó đã kết thúc. Tôi đã thiếu phép lịch sự với cộng sự của nó khi anh chim này đến muộn hơn một chút, sau khi Brownie đã bay đi, gọi chú ta là “kẻ phản bội!” và gần như muốn để chú ta đói.
Nhưng khi quan sát thấy những con bồ câu cái khác đến mà không có bạn tình, và sau đó những con đực xuất hiện, tôi suy luận đúng rằng đã đến giờ làm tổ và trứng không bao giờ bị bỏ rơi; buổi chiều bồ câu cái che chở, buổi trưa thì là bồ câu đực.
Vì vậy, mỗi sáng bà Pointie, bà Buster, White Wings và Brownie đều có thói quen đến thăm Quảng trường, dành phần lớn thời gian ở đó, ăn uống, sắp xếp nhà vệ sinh và thưởng thức sự xa hoa của sự ngọt ngào không làm gì cả. Chúng đa dạng hóa thời gian bằng cách thỉnh thoảng mổ nhau, nhưng những cuộc cãi vã của chúng không mang tính chất nghiêm trọng. Bằng một cách bí ẩn nào đó, chúng luôn biết khi nào thời gian giải trí của mình đã kết thúc và từng con một sẽ bay đi.
Chẳng bao lâu sau, một con chim bồ câu đực xuất hiện, rất đói, rất khát và có vẻ mệt mỏi. Rồi con khác sẽ đến, con khác nữa, và con khác nữa. Thật là đẹp khi nhìn thấy chúng duỗi mình: đôi cánh, một chân, rồi chân kia, rồi cổ từ bên này sang bên kia. Chúng tạo ấn tượng như đang ở trong một tư thế chật chội trong một thời gian đáng kể và đánh giá cao sự thư giãn.
Tôi rất nhớ việc được gặp những người bạn xinh đẹp của mình bên nhau, một niềm vui mà tôi buộc phải từ bỏ trong khoảng ba tuần.
7.
Thế hệ trẻ hơn
Tôi hỏi “Anh có thể rời khỏi bàn làm việc một lát và cho em biết liệu anh có gặp khó khăn gì trong việc đoán xem đây là con cháu của ai ở bên cửa sổ không?
“Có lẽ đó là một Brownie nhỏ,” câu trả lời cười vui vang lên.
Nhưng đó không phải là một con Brownie nhỏ. Ở đó, khoảng giữa quảng trường có một con chim bồ câu non xinh đẹp, màu đen tuyền, lông trắng và đôi mắt đen dũng cảm; một bản sao hoàn hảo thu nhỏ của con vật mà tôi đã đặt tên là “Chú rể” vài tháng trước. Chú ta là một chú chim nhỏ bé đáng sợ và nhanh chóng bay đi khi bị chú ý.
Ngoại trừ việc chú là đối tác của Blackie, người ta sẽ không bao giờ cho rằng chúng có quan hệ họ hàng với nhau; lần đầu tiên tôi nhìn thấy chúng cùng nhau ở cửa sổ, có thể suy ra chúng là kẻ thù không đội trời chung.
Blackie xoay tròn trước mặt chú ta, và White Wings hôn chú ta một cái. Rõ ràng là chúng đang nói với chú: “Hãy đi và lo cho chính mình đi!” Chú ta thốt ra một âm thanh nhỏ phản đối giống như “Wee-đu!” nhưng đã sớm bị đuổi đi.
Do đó, không lâu sau đó, thật là buồn cười khi cậu bé “Wee-Wee” trong khi đang thưởng thức bữa tối trên Quảng trường, liếc nhìn những đôi cánh rung rinh đang đến gần, và khi cha mẹ cậu bước xuống với vẻ tự tin quen thuộc, nhảy nhót trước mặt chúng, xoay người xung quanh và cố gắng nói “Groo-groo-groo!” giống như những con chim bồ câu già hơn.
Blackie đứng đó một lúc kinh ngạc trước sự trơ tráo của chàng trai trẻ này, rồi tiến tới chỗchú ta. Wee-Wee đứng vững ngay lập tức, dũng cảm đối mặt với tổ tiên của mình, bộ ngực nhỏ màu trắng căng phồng, nhưng ngay sau đó đã bị đẩy ra xa; Tuy nhiên, không phải cho đến khi chú ta gây ra một nụ hôn bất hiếu với mẹ mình, chẳng hạn như “Hãy lấy cái đó đi!”
Vào khoảng thời gian này, đội Busters bay rất chậm đến giữa chúng, một con chim bồ câu con mà rõ ràng là chúng đang dạy bay. Khi chúng xuống Quảng trường, tôi nhận thấy con con giống Buster nhưng có cái mỏ dài giống mẹ nó. ‘Cả ba cùng nhau ăn uống rất vui vẻ, và Buster, trong tâm trạng vui tươi, đã đặt một vài cái thơm giả tạo lên, hay đúng hơn là vào đứa con của mình.
Một lúc sau, bà Buster vỗ cánh báo hiệu sắp bay và cả ba người rời đi, giữa bố mẹ bà vẫn còn cãi nhau. Đó là một bài thơ nhỏ hoàn hảo về chuyển động của chim bồ câu, với chuyển động nhịp nhàng chậm rãi của sáu cánh, lên xuống đồng loạt, khác hẳn với chuyến bay vội vàng thường thấy của Busters.
Nhưng tôi rất tiếc phải ghi lại đó là lần duy nhất tôi được tận hưởng khung cảnh gia đình hạnh phúc; vì lần tiếp theo tôi nhìn thấy chúng cùng nhau trên quảng trường Piazza, cô Buster đang phải nhận sự đối xử tàn nhẫn tương tự từ cha mẹ cô như trước đây đã dành cho cô bé WeeWee.
Tuy nhiên, cô Buster đã giao phối từ rất sớm với một con chim bồ câu non có cái mỏ nhọn rõ rệt, tôi suy ra, nó là một con Pointie con; và bây giờ tôi gọi cô là bà Pointie Junior, nhũ danh Buster. Những đứa trẻ nhà Pointies nhanh chóng trở thành những người sở hữu đầy kiêu hãnh một đứa con nhỏ của riêng mình, do đó trở thành ông bà của Busters và Pointies, điều này gần như không thể tin được, đặc biệt là khi người ta nhìn bà Pointie, quá nhỏ bé và xinh xắn, trông giống một đứa trẻ hơn là một bà vợ và bà nội.
8.
Tình bạn chín muồi
Những chú chim bồ câu của tôi và tôi giờ đây đã là những người bạn ấm áp trong suốt một mùa đông dài và ảm đạm. Tình bạn của chúng tôi không phải là sự bốc đồng đột ngột mà là sự hấp dẫn của sự phát triển rất dần dần. Nói cách khác, chúng không trở nên thuần phục ngay khi mới quen mà dần dần, khi tôi đã chứng tỏ mình là một người bạn thực sự.
Lúc đầu, chúng chỉ lấy những mảnh ăn vụn sau khi tôi đóng cửa sổ và rút lui một chút; nhưng sau đó, chúng bực bội vì cửa sổ bị hạ xuống, và tôi đã bị cảm lạnh mấy lần vì chiều theo ý muốn của chúng. Sau đó, những con thuần hóa hơn, đặc biệt là Busters và “Bandy”, chưa được giới thiệu, đã không ngần ngại vào phòng tìm hộp đựng vụn bánh. Cuối cùng, chúng tranh giành đặc quyền được ăn từ tay tôi. Tôi vội giải thích rằng tay tôi luôn cầm phần chọn lọc nhất trong thực đơn.
Tôi đang ngồi khoảng nửa chừng trong phòng khách của chúng tôi, giỏ đựng đồ làm việc đặt cạnh tôi trên bàn, chăm chú vào công việc của mình. Tôi không để ý rằng những mảnh thức ăn vụn trên bậu cửa đã biến mất trong cổ họng bé nhỏ cho đến khi tôi chú ý đến sự việc đó khi nghe thấy tiếng vỗ cánh và nhìn thấy con chim bồ câu lớn màu xanh lam của tôi ở gần giữa bàn, trông rất phấn khích và bối rối vì đã làm xáo trộn một bát đựng những cánh hoa hồng nhưng lại rất chăm chú vào một chiếc hộp màu xanh lá cây nào đó. “Tại sao Buster!” Tôi kêu lên, “Tao đã bỏ bê mày à?” Sau đó, chú ta bay trở lại cửa sổ, nhưng với vẻ chờ đợi, nghểnh cổ lên nhìn vào phòng.
Tôi nhanh chóng đáp lại nhiệm vụ của chú ta, đây chỉ là nhiệm vụ đầu tiên trong số nhiều nhiệm vụ tiếp theo. Sau này, khi tôi muốn chơi với nó, tôi đặt chiếc hộp ở những nơi khác nhau trong phòng và để nó tìm kiếm, bà Buster tất nhiên cũng làm theo, niềm hạnh phúc lớn nhất của bà là được ở gần Buster, phương châm của bà: “Anh đi đâu, em đi đó”.
Gặp bác sĩ trong phòng ăn vào một buổi sáng, tôi nói: “Anh có để lại đồ vật có giá trị nào trên lầu không? Nhà Busters đang háo hức nhìn qua cửa sổ và có thể sẽ trân trọng một món quà lưu niệm.” Vì lũ chim bồ câu bị thu hút nhiều bởi những đồ vật sáng màu và thường cố gắng hết sức để lấy một chiếc nhẫn từ ngón tay tôi, hoặc một vật trang trí từ áo choàng của tôi.
Tuy nhiên, lúc đầu, có một số lối vào phòng không được tính toán trước và không được đánh giá cao ở hai bên cửa sổ. ‘Đầu tiên là Pointie, nó đang đứng ở phần bên trong của bậu cửa thì một tiếng động bất ngờ nào đó bên ngoài làm tất cả chim bồ câu giật mình, và đôi cánh vội vã dang rộng trong chuyến bay. Pointie, trong cơn phấn khích tột độ, bay ngang qua phòng, nhầm cánh cửa sổ kính lớn với cửa sổ đang mở, lao thẳng vào nó với một lực rất mạnh khiến cả nó và tôi đều khiếp sợ.
“Pointie! Pointie!” Tôi gọi nhẹ để trấn an nó; nhưng chú chim tội nghiệp quá sợ hãi nên không chú ý đến tôi. Chú ta bay vòng quanh phòng một cách điên cuồng, cho đến khi, trước sự nhẹ nhõm tột độ của tôi, nó đã tìm thấy Cửa sổ Chim bồ câu và ở ngoài trời. Có lẽ phải một tuần hoặc hơn nữa thì sự tự tin của nó mới phục hồi đủ để cho phép nó đến gần hơn gờ ngoài cửa sổ.
Vào một dịp khác, khi Busters đã trở nên khá thuần hóa và con chim bồ câu lớn màu xanh của tôi đã bay vào phòng về phía hộp đựng vụn bánh mà tôi đã để trần trên sàn, White-Wings nghển cổ xinh đẹp của mình lên, nhìn vào và dường như nghĩ rằng bên trong nó rất hấp dẫn.
Blackie và những người khác đang ở trên quảng trường vui chơi như thường lệ, và mỗi con đều ngẩng đầu lên ngạc nhiên khi đôi cánh trắng rung lên và bà Blackie đáp xuống sàn bên cạnh Buster, người đang bận rộn với chiếc hộp vụn. Blackie bước tới, chăm chú nhìn một lúc người bạn đời của mình đang ăn uống thỏa mãn với Buster, và trái ngược với sự mong đợi của tôi rằng chú ta cũng sẽ bước vào, nó quay lại và bay về chuồng của mình.
Tuy nhiên, bữa ăn của bà Blackie chỉ diễn ra trong thời gian ngắn; vì một cuốn sách, tuột khỏi lòng tôi, khiến cả nó và Buster giật mình, sau đó chúng bay nhanh ra ngoài cửa sổ, đồng thời với chuyến bay lên trên của Whitie xuyên qua phòng. Nó đã mắc phải sai lầm tương tự như Pointie đã gây ra trước đó, nhầm cửa sổ lớn phía đông với một không gian rộng mở, lao vào nó với một lực rất lớn. Cú va chạm ném hình hài nhỏ màu trắng xuống sàn, và trong giây lát tôi vô cùng sợ hãi.
Nhưng ngay sau đó nó ngẩng đầu lên, nhìn xung quanh như thể choáng váng, rồi bay lên trên, đáp xuống lưng ghế và ở đó một lúc, có vẻ hài lòng. Tôi kéo rèm xuống để tránh cho nó lặp lại sai lầm của mình và âu yếm nói chuyện với nó. Nó nhìn qua phòng nơi lũ bồ câu đậu trên bậu cửa sổ, nhưng không cố gắng tham gia cùng chúng, đậu trên cành như thể đang chịu đựng hoặc đang hồi phục sau vết thương. Nó ở trong phòng một lúc rồi bay ra quảng trường, nghỉ ngơi dưới ánh nắng một lúc trước khi bay về chỗ ngủ của mình.
Nhưng White-Wings bé nhỏ tội nghiệp không được chào đón về nhà, vì trước sự ngạc nhiên của tôi, Blackie, người đang ở lối vào chuồng bồ câu, dường như đang chờ nó quay lại, đã xoay vòng trước mặt nó khi nó đáp xuống và không cho phép nó vào ngôi nhà nhỏ. Rõ ràng là chú ta bực bội vì sự vắng mặt quá lâu của nó; và lần cuối cùng nhìn thấy nó ở hộp đựng bánh vụn với Buster, một ý nghĩ ghen tị nào đó có thể đã xuất hiện trong cái đầu bóng loáng của chú ta.
Có lẽ chú tưởng tượng rằng người bạn đời xinh đẹp của mình đã liếc nhìn vẻ tán thành với vẻ ngoài hào hoa của Buster, hoặc rằng Buster say mê đôi mắt long lanh của cô. Nhưng tôi, người giám sát toàn bộ sự việc, có thể thuyết phục chú ta rằng sự nghi ngờ của chú ta là vô căn cứ, rằng những ánh mắt ngưỡng mộ đều tập trung hoàn toàn vào chiếc hộp đồ ăn vụn.
Tôi thực sự thông cảm với WhiteWings bé nhỏ và cảm thấy nhẹ nhõm vào sáng hôm sau khi thấy chúng bay cùng nhau như thường lệ. Tôi rất vui khi biết rằng mớ rắc rối trong hôn nhân đã được giải quyết một cách vui vẻ.
9.
Tắm
Trong những ngày mùa đông lạnh giá, tôi thường xuyên phải mang chậu đá mã não vào phòng tắm, lấy đá ra rồi đổ đầy lại. Nhưng vào thời điểm mà tôi đang viết đây – cuối mùa xuân và đầu mùa hè, thời điểm lần đầu tiên tôi làm quen với thế hệ trẻ – tôi thường rửa chậu vào buổi sáng, đổ đầy nước và chỉ đổ nước vào trong ngày. Nhưng tôi sớm phát hiện ra rằng tôi còn được mong đợi nhiều hơn thế.
Buster đang uống một hơi dài và chậm rãi, được khuyến khích bởi một giọng nói tử tế từ chiếc ghế morris, “Uống nồng nhiệt đi” và một lúc sau khi quay ra cửa sổ, tôi phát hiện ra chú ta ở giữa chậu.
“Buster thân mến,” tôi kêu lên, “Mày lẻn vào à? Mày có sợ hãi không?
Nhưng con chim bồ câu xanh to lớn của tôi đã bác bỏ mọi sự coi thường về lòng dũng cảm của nó bằng cách nhanh chóng lao xuống, minh họa cho tôi sự thích thú rằng cảnh tượng tuyệt đẹp khi nhìn thấy một con chim bồ câu tắm; đôi cánh dang rộng, thân mình chìm đắm, nghiêng bên này rồi bên kia, mỗi động tác xinh xắn dường như hấp dẫn hơn động tác trước. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy chúng không bao giờ nhúng đầu xuống dưới.
Lúc này, bà Buster tiến đến gần bồn nước, hất lông lên trên đầu, mà tôi sớm biết được rằng đó là dấu hiệu đầu tiên của mong muốn được lao xuống. Đầu tiên, nó “trêu chọc” nước bằng cái mỏ của mình, cách tắm nước của chim bồ câu, rồi cố gắng nép mình vào chiếc chậu, vốn chỉ vừa đủ rộng để hai con có thể tắm thoải mái. Sau đó, tôi quyết định đặt một chiếc chậu lớn hơn, nhưng niềm vui mà tôi có được khi nhìn thấy những người bạn cùng tập trung lại đã ảnh hưởng đến việc tôi để lại chiếc chậu nhỏ hơn.
Trong lần tắm đầu tiên, Buster đặt mình vào chính giữa chiếc bát, tỏ ra vô cùng hài lòng; nhưng cuối cùng bà Buster cũng đưa thân hình mảnh khảnh của mình xuống nước, và chúng khiến tôi nhớ đến hai chú vịt con khi chúng ngồi đối diện nhau. Khi đã ướt sũng và đã tắm đủ, chúng bước ra khỏi chậu, vỗ cánh mạnh mẽ, rải những giọt nước đây đó, hoàn toàn không quan tâm đến những người hàng xóm đang nghỉ ngơi dưới ánh nắng.
Hai con chim đang ướt sũng là một cảnh tượng buồn cười và hoàn toàn không thể nhận ra khi chúng ngồi sát nhau trên gờ ngoài, tận hưởng trọn vẹn ánh nắng mặt trời, sau khi để lại một chậu nước rất bẩn mà tôi đã nhanh chóng thay trước khi bất kỳ con chim bồ câu nào làm dịu cơn khát của chúng. Nhưng tôi nhanh chóng biết được rằng những chú bồ câu xinh đẹp của tôi không hề kén chọn nước uống.
Chuyện thường xảy ra là trong khi một hoặc hai con đang tắm thì một hoặc có lẽ nhiều con khác lại đòi uống nước. Sau đó, một cuộc mổ xẻ rất sôi nổi diễn ra giữa con tắm và con khát. Do đó, tôi thường bận rộn thay nước, đặc biệt hơn về độ tinh khiết của đồ uống.
Việc bọn Blackies tắm cùng nhau khiến tôi rất thích thú. Và trong điều này, cũng như trong những điều khác, tính cách của chim bồ câu được thể hiện, không có con nào giống con nào. White-Wings dường như luôn mong đợi rất nhiều sự quan tâm từ người bạn đời của mình, chấp nhận sự vuốt ve nhưng lại ít đáp lại. Nó gây ấn tượng với tôi như một người hơi tự cao tự đại.
Việc Blackie chải lông trên đầu và rửa mỏ, bước khởi đầu của việc tắm, là tín hiệu để nó lao nhanh vào chậu, chiếm chính giữa, chìm sâu trong nước, không chừa chỗ cho Blackie. Khi chen chúc vào chậu, chú ta xòe một cánh lên nó, điều này có vẻ khiến nó rất hài lòng; và không thể nhìn thấy gì ngoài đôi mắt to đen bóng, nhìn từ dưới cánh của Blackie.
Tôi rất thích những con chim non và thấy chúng đặc biệt thú vị. Tôi thích ghi lại tổ tiên của chúng, vì chúng thường bị trôi dạt khi còn nhỏ. Chim con sẽ chạy đến chỗ bố mẹ, vỗ cánh và kêu “Wee-đu!” có lẽ là tiếng kêu của tổ để kiếm thức ăn, giơ cái mỏ nhỏ lên để nhận biết. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, chim bố mẹ đều lạnh lùng quay đi, phớt lờ những lời cầu xin liên tục của con cái.
Lúc đầu, tôi bị sốc vì điều này và thất vọng về những con chim bồ câu của mình, chúng đã trở nên thân thiết với tôi; nhưng suy ngẫm về bản chất của chim bồ câu và cuộc sống của chim bồ câu, như được khám phá qua quan sát hàng ngày, tôi đi đến kết luận rằng việc vứt bỏ con non là một điều kiện cần thiết cho cuộc sống của chúng, dường như diễn ra theo một vòng tròn gồm giao phối, làm tổ, che chở trứng, nuôi chim con trong khoảng hai tuần, và sau đó cùng nhau đi nghỉ một chút.
Mỗi nghĩa vụ đều được thực hiện một cách nghiêm túc và tận tâm như đối với con người chúng ta, trong nỗ lực hình thành tính cách và trong khát vọng đạt được cuộc sống cao hơn; trong nỗ lực của chúng ta để làm cho mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn và được chấp nhận hơn ngày trước đó, nhận ra rằng mỗi cám dỗ bị chinh phục sẽ củng cố nhân cách.
Những sinh vật lông vũ nhỏ bé này rất coi trọng số phận của mình.
10.
Xây tổ
Vào khoảng thời gian bà Buster và con Pointie thành lập một liên minh, một buổi sáng, chú xuất hiện bên cửa sổ, ngậm một bó rơm trong mỏ. Chú xuất hiện rất nam tính và lịch thiệp, bước xuống trước mặt tôi khi tôi ngồi dưới ánh nắng dịu nhẹ và ném bó rơm của chú ra trước mặt tôi. Chú ta lập tức bay đi, lập tức quay lại và lặp lại màn trình diễn tuyệt vời của mình.
Tôi tự nghĩ: “Tôi tin rằng chú chim này đang tặng tôi một bó hoa để đánh giá cao sự quan tâm của tôi đã cho chú ăn”. Sau này tôi mới nhận ra rằng có lẽ chú ta đã dại dột chọn Quảng trường làm nơi đặt chuồng bồ câu; nhưng tôi không thể hiểu được động cơ của chú ta, khi bà Buster đáp xuống bậu cửa sổ, cầm lấy một chiếc ống hút và nhanh chóng bay về tổ của mình. Khi cô quay lại, cọng rơm còn lại đã bị gió mùa hè cuốn đi.
Nó có vẻ bồn chồn và không muốn ăn, và khi tôi rời khỏi cửa sổ, tôi nhận thấy nó đang kéo dây mái hiên. Khi tôi đến gần nó, nó bỏ đi và bay sang một cửa sổ khác. Tôi tò mò muốn biết cái đầu nhỏ có lông vũ đang có âm mưu gì, đi sang phòng bên cạnh thì phát hiện ra nó ở cửa sổ với sợi dây mái hiên ở cái mỏ nhỏ xíu. Phát hiện ra tôi, nó đánh rơi sợ dây và bay trở lại Cửa sổ Bồ câu. Sau khi quan sát nó một lúc, tôi kết luận rằng nó muốn sợi dây mái hiên, nhưng nghĩ rằng tôi sẽ không cho phép nó có sợi dây. Nói một cách dễ hiểu, nó đang cố đánh cắp sợi dây.
Khi tôi giả vờ không chú ý đến nó, nó đã ngậm chặt lấy đầu mỏ và bay đi, và rất thất vọng vì không thể tiếp tục. Sau đó, tôi cắt một mảnh ở cuối và đặt sợi dây trên bậu cửa sổ. Nó nhanh chóng chiếm đoạt sợi dây, mang về tổ của mình.
Sau đó, tôi nhận ra rằng nó đang sửa chữa tổ ấm cũ hoặc xây tổ mới và tôi quyết tâm giúp đỡ nó. Tôi cắt một vài mảnh có độ dài khác nhau từ một cuộn dây bện dày, đặt chúng trên bậu cửa sổ. Nó nhanh chóng quay lại và nhặt hết mảnh này đến mảnh khác, cuối cùng quyết định chọn mảnh dài nhất mà nó mang theo bên mình.
Do đó, tôi biết được rằng sở thích của nó có độ dài nửa thước Anh, và tôi đã bận rộn trong một giờ để cắt những đoạn có độ dài mong muốn cho nó. Nó lấy một đầu mỏ của mình, lắc nó từ bên này sang bên kia như thể đang kiểm tra sợi dây, rồi nhanh chóng bay qua. Nó trông giống như một con diều nhỏ với cái đuôi dài khi nó thực hiện cuộc hành trình của mình trên các mái nhà.
Không nghi ngờ gì nữa, Buster đang ở trong tổ, tiếp nhận và sắp xếp nguyên liệu; vì nó chỉ cần dành thời gian để gửi sợi dây khi nó đã hết thời gian để lấy thêm. Một lúc sau, bà nội trợ siêng năng trở nên mệt mỏi; cổ họng nhỏ bé của nó nhói lên và cái mỏ của nó mở ra như thể đang thở hổn hển, tình trạng của tất cả các con chim bồ câu sau khi bay về trong thời tiết rất ấm áp.
Vì vậy, đôi khi nó làm rơi sợi dây khi đi được nửa đường và nhanh chóng quay lại chỗ tôi để lấy đoạn khác. Tôi dùng bánh vụn dỗ dành nó nghỉ ngơi một lát, nhưng nó quá chăm chú vào công việc nên không lo ăn uống.
Ngày hôm sau, tôi dành vài giờ để giúp đỡ nó. Tôi đã mua ống hút và dây bện dày, và chúng tôi đã làm việc cùng nhau trong một thời gian dài. Để giúp nó thực hiện công việc dễ dàng hơn, tôi cầm từng cọng rơm, từng sợi dây cho nó, nó nhận lấy từ tay tôi với vẻ biết ơn. Nó làm việc hăng say trong phần lớn hai ngày ấm áp, chỉ dành vài phút cho việc ăn uống. Người bạn đời của nó đã phải cân nhắc kỹ lưỡng nhiều lần khi chú ta đến dùng bữa, luôn mang theo một chiếc ống hút bên mình.
Từ kinh nghiệm của tôi với bà Buster, tôi kết luận rằng chim bồ câu cái thu thập nguyên liệu, chim đực xây tổ. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng trong một số trường hợp, chim đực thu thập ống hút, v.v., và trong những trường hợp khác, chúng luân phiên làm việc đó.
Những sinh vật bé nhỏ thân yêu dường như rất cảm kích trước những nỗ lực không ngừng của tôi để giúp đỡ chúng.
11.
Bandy
Bây giờ tôi sẽ giới thiệu “Bandy”, người mà tôi đã dần yêu mến, mặc dù lúc đầu tôi có thành kiến với chú ta vì thái độ của chú đối với tám con vật cưng của tôi. Chỗ ở của chú cách đó khoảng ba dãy nhà, trong một tòa tháp cao, và tôi không biết điều gì đã thu hút chú đến Quảng trường chim bồ câu của tôi; nhưng một ngày nọ chú xuất hiện ở đó, rất tự tin và không được chào đón.
Chú ta có vẻ rất thông thạo nghệ thuật tự vệ và nhanh chóng thể hiện sự hiện diện của mình. Ngoại hình của chú không hấp dẫn vì chú ta có viền to và dày quanh mắt, mà người giúp việc của tôi gọi là “kính ô tô” và cái mỏ to dày của chú trông giống như một miếng băng. Vì vậy, tôi gọi chú là “Bandage”, nhưng sau này khi biết và yêu mến chú, tôi lại gọi nhẹ nhàng hơn là “Bandage”.
Sự phẫn nộ thể hiện khi xâm chiếm Quảng trường đã gợi lên trong chú ta nhiều sự hung hãn; và tôi và lũ chim bồ câu của tôi càng cố gắng ngăn cản chú thì chú càng kiên trì ở lại. Nhưng hai người không bao giờ tấn công chú ta cùng một lúc; một khóa học như vậy dường như trái ngược với đạo đức của chim bồ câu.
Ngay cả khi một con chim bồ câu cái bị quấy rối, bạn tình cũng không can thiệp; nhưng khi cuộc chiến nhỏ kết thúc, trong nhiều trường hợp, sẽ trừng phạt kẻ phạm tội. Ngoài ra, chim bồ câu cái, nếu bạn tình của mình đang chiến đấu với một con khác, sẽ đứng sang một bên, nhưng cuối cùng sẽ đưa ra một nụ hôn ác ý lên kẻ phản diện của bạn tình.
Vào thời điểm Bandy xuất hiện, tôi đã bổ sung vào thực đơn hàng ngày những món vụn vặt bằng thức ăn thú vị cho chim bồ câu. Chúng đã vui vẻ thưởng thức nó! và nó chắc chắn trông thật hấp dẫn!—các loại ngũ cốc khác nhau trộn lẫn với nhau—đỏ, xanh lá cây, nâu vàng, những đĩa nhỏ màu xanh lá cây và ngô tươi vàng. Khi tôi mua thức ăn lần đầu tiên, nó gợi cho tôi nhớ đến cảm giác thích thú mà tôi thường trải qua khi còn nhỏ, khi mở một hộp kẹo hỗn hợp và chiêm ngưỡng các loại kẹo.
Tôi tin rằng những con bồ câu của tôi cũng có cảm giác giống như tôi, vì chúng gần như trở nên cuồng nhiệt với sự nhiệt tình chiếm hữu bàn tay của tôi và nỗ lực cạnh tranh với một đội bóng đá. Bây giờ thường xuyên, khi tôi đưa cho chúng những mẩu ăn vụn, chúng từ chối, mổ ngón tay tôi để tìm thức ăn cho chim bồ câu; bởi vì, giống như con người, trong lĩnh vực này cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, chúng không sẵn lòng quay trở lại cuộc sống bình dân sau khi đã ham thích những thứ xa hoa.
Và những cái mổ khác nhau bộc lộ những tính cách nhỏ nhặt của chúng: một số mổ một cách thô bạo, khắt khe; số khác rụt rè, với đôi mắt ngước lên cầu xin. Những con khác nữa, những con vật cưng đặc biệt, mổ nhẹ nhàng nhưng đầy dỗ dành, với sự đảm bảo chắc chắn rằng sẽ có phản ứng thuận lợi.
Bandy rõ ràng đánh giá cao thức ăn cho chim bồ câu, cùng với nước uống trong lành và nghĩ rằng một vị trí trên Quảng trường rất đáng để tranh giành. Một ngày nọ, khi chú đến đó trong lúc những con chim bồ câu khác vắng mặt, tôi đánh liều làm quen với chú và gọi chú đến. Chú nhìn tôi dò hỏi một lúc, vì không quen với việc tôi xưng hô với chú bằng giọng điệu vuốt ve, nhưng ngay sau đó chú tiến lên với ánh sáng dịu dàng trong mắt.
Tôi cho chú ăn và nói chuyện với chú , và kể từ ngày đó toàn bộ thái độ của chú ta đã thay đổi. Trước đây chú dường như nghĩ rằng mình bị phân biệt đối xử, điều này đã khiến chú nổi giận. Nhưng sau ngày chúng tôi trở thành bạn bè, toàn bộ thái độ của chú thay đổi, và chú ngừng tấn công những con chim bồ câu của tôi, chỉ đến gần tôi chờ được cho ăn.
Chú ta đã chứng tỏ là một con chim thông minh tuyệt vời, nghiêm túc và khôn ngoan đến mức chúng tôi gọi chú là nhà hiền triết của Quảng trường. Chú đã sớm giới thiệu người bạn đời của mình với nhóm nhỏ của chúng tôi; một con chim bồ câu nhỏ màu đồng xinh xắn, lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, có một sợi dây quấn quanh một chân nhỏ, bị què, như thể bị đau khi tự giải thoát; vì rõ ràng cô chim này đã bị giam cầm.
Ngay sau đó, Bandy tỏ ra quan tâm đến việc xây tổ. Chú cũng bắt đầu kéo dây mái hiên, và tôi nhanh chóng đưa cho chú ống hút và dây bện. Chú đã không ngần ngại nhận nguyên liệu từ tay tôi, trước sự không hài lòng của những con chim bồ câu khác, những người phẫn nộ vì đã thu hút quá nhiều sự chú ý của chú.
Tất cả chúng dường như đều sợ một cú mổ từ chiếc mỏ mạnh mẽ của Bandy, và thật thú vị khi thấy chúng mổ chú ta, ngay sau khi chú nhận được một chiếc ống hút từ tôi, khi mỏ của chú đang bận giữ nó. Nhưng Bandy không bao giờ đánh mất sự tự chủ của mình bằng cách thả cọng rơm để trả đũa; nhưng với phẩm giá và sự tự chủ cao độ đã bỏ qua cuộc tấn công, nhanh chóng lên đường trở về nhà; tuy nhiên, với một tia sáng đáng chú ý trong mắt chú ta có thể được hiểu là, “Hẹn gặp lại bạn sau!”
Sau một thời gian, Bandy đến Quảng trường vào một thời điểm trong ngày, người bạn đời của chú ta đến vào một thời điểm khác, do đó tiết lộ sự thật rằng một quả trứng đang được bảo vệ. Nhưng trước sự kinh ngạc của tôi, một buổi chiều nọ, Bandy đến với một quả trứng tròn nhỏ màu trắng rất đẹp dính trên lông ngực của nó. Rõ ràng đó là một tai nạn đáng tiếc xảy ra khi nó rời tổ một cách vội vàng.
Chú ta dường như không nhận thức được tình hình, mặc dù có vẻ rất khó chịu và bồn chồn, chỉ ở lại một lúc, quả trứng vẫn dính vào lông khi chú bay về tổ. Tôi tha thiết hy vọng chú sẽ đến đó mà không làm tổn hại đến cái tôi của tôi, nhưng nhận ra rằng đó không phải là một phần tiếp theo vui vẻ, khi sáng hôm sau hai người bạn cùng xuất hiện.
Tuy nhiên, vài tháng sau, chúng thành công hơn với quả trứng của mình; trong một ngày, khi tôi đang cho một con gà trống nhỏ màu nâu ăn, Bandy và một số con khác đáp xuống Quảng trường, và con nhỏ vui vẻ vỗ cánh, lao tới chỗ Bandy với cái mỏ hếch lên và kêu lên: “Wee-wee-wee!” Bandy ngậm chiếc mỏ nhỏ trong tay mình một lúc, biểu thị một sự vuốt ve, điều này rõ ràng đã làm hài lòng ‘Weeny’, người đã trở lại với những mảnh vụn của mình.
12.
Thay lông- Dạy chim không đánh nhau
Mary, cô hầu phòng tốt bụng của tôi, thường ngạc nhiên trước sự thấu hiểu hoàn hảo giữa tôi và lũ bồ câu của tôi; và để biện minh cho sự tận tâm của mình đối với chúng, tôi nói với cô ấy: “Mary, lý do khiến tôi yêu quý những con chim bồ câu là vì tình cảm của chúng dành cho nhau; những người bạn đời rất chung thủy và tận tụy.
Mary giơ tay lên kinh ngạc và kêu lên: “Ồ, thưa bà! chúng có biết nhau không? Tôi không nghĩ loài chim lại biết nhau!”
Cô ấy hứa sẽ chăm sóc chúng chu đáo trong thời gian tôi nghỉ hè ở quê. Tôi quay lại và thấy những con chim bồ câu của mình đang bắt đầu thay lông vào mùa thu; và chúng xuất hiện một cách rất tò mò và không đáng yêu. Một số trong số chúng khó có thể nhận ra được, những cái đầu và cổ họng nhỏ bé tội nghiệp của chúng gần như để trần. ‘Chúng cũng có vẻ khá ốm yếu trong thời gian thay lông và mất đi sự hoạt bát quen thuộc.
Có một cảnh khá nhỏ được diễn lại vào một buổi sáng bởi bà Buster, từng lần đầu tiên thay lông và bây giờ đã phục hồi lại bộ lông, trông đẹp và bóng mượt hơn trước. Buster lúc này đang ốm nặng, nhìn bộ dạng gầy gò, sáng nay nóng lòng muốn đi tắm. Chú ta đặt mình vào chậu, nhưng rất khó chịu khi những con chim bồ câu khác cố gắng thay thế chú và mổ chú ta từ mọi phía.
Buster dường như không đủ năng lượng để tự vệ; nhưng một đôi mắt nhỏ màu đỏ lóe lên một cách phẫn nộ khi bà Buster leo lên thành chậu để bảo vệ người bạn đời yêu quý của mình khỏi những kẻ hành hạ chú, điều mà bà đã làm thành công nhất, đập cánh từ bên này sang bên kia, mổ vào mọi cái đầu trong tầm tay. Sinh vật nhỏ bé này đã chiến đấu dũng cảm đến nỗi chẳng bao lâu sau nó đã đánh đuổi được tất cả bọn chúng. Sau đó, cô nó chuyển sự chú ý sang Buster, nhẹ nhàng mổ khắp người chú, như thể đang xoa bóp cho chú, mang lại sự thoải mái và thích thú rõ ràng cho người yêu.
Sau đợt lột xác mùa thu, lũ chim bồ câu khoác lên mình vẻ ngoài xinh đẹp trong bộ lông mới bóng loáng, đồng thời lấy lại sức sống quen thuộc, nối lại những cuộc chạm trán võ sĩ của chúng.
Khi tôi và chúng mới chỉ là bạn bè được một thời gian ngắn, tôi đã đánh bạo dặn chúng không được đánh nhau và đã thành công ở một mức độ nào đó. Nhưng nó gợi lên những phẩm chất khác mà tôi thậm chí còn không thích hơn cả việc chiến đấu. Chúng trở nên lừa dối hoặc ủ rũ, tùy theo bản chất của chúng.
Phương pháp của tôi là vỗ tay lên đầu chúng, và nếu cần, nhẹ nhàng tách chúng ra. Sau đó, tôi sẽ khiển trách con bồ câu hung hãn – con đã tấn công – và gọi con kia đến và cho nó ăn. Chúng hiểu mọi giọng điệu và biết khi nào chúng không hài lòng hoặc khi nào được khuyến khích. ‘Chúng nhanh chóng hiểu rõ rằng tôi không tán thành việc đánh nhau và hình phạt là điều tôi không hài lòng. Điều này xảy ra vào thời điểm tôi chỉ có tám con chim bồ câu. Kể từ đó, tôi đã đảm nhận phúc lợi cho con cái và cháu chắt của chúng, cho đến khi những con số trở nên đáng xấu hổ.
Tuy nhiên, tám con chim bồ câu của tôi đã sớm biết rằng kẻ quấy rối hàng xóm của mình là kẻ đáng hổ thẹn; nhưng thực tế đó khiến chúng chỉ che giấu tính nóng nảy của mình chứ không kiềm chế được. Khi có mặt tôi, chúng ăn uống rất hòa thuận, sau đó chúng sẽ gặp nhau ở bên cửa sổ, tỏ ra thù địch khi tôi chỉ có thể nhìn thấy chúng bằng cách nhoài người ra ngoài.
Đặc biệt, Buster trở nên ủ rũ và nóng nảy. Nếu chú ta đến Quảng trường trước và một trong những con chim khác xuất hiện, thay vì quay vòng và “mắng mỏ” như trước, chú ta sẽ bỏ lại những mảnh đồ ăn vụn của mình, đi đến cuối bậu cửa sổ và ngồi xuống, nhìn người mới đến với vẻ không hài lòng. Chú ta sẽ kiên nhẫn ngồi đó ủ rũ cho đến khi con chim kia bay đi thì chú nhanh chóng đuổi theo và trút hết nỗi lòng.
Tôi tự chúc mừng mình đã dạy lũ bồ câu của mình không đánh nhau, nhưng người ta lại bảo rằng tôi đang làm chúng không vui, vì đó là một phần cuộc sống của chúng. Và nhận ra rằng đấu tranh thẳng thắn còn đáng vinh dự hơn, hoặc ít nhất là ít đáng trách hơn sự dối trá và lừa dối, tôi đã sớm từ bỏ nỗ lực cải thiện đàn chim bồ câu của mình. Và bây giờ, tôi rất tiếc phải nói rằng, hàng ngày tôi chứng kiến việc nhổ lông và thường gỡ những chiếc lông nhỏ ra khỏi mỏ nhỏ, kẻo chúng bị nuốt chửng.
Và tôi dành nhiều thời gian để bảo vệ những kẻ yếu hơn; vì lũ chim bồ câu của tôi không có ý thức về sự công bằng hay công lý. Tôi rất tiếc phải nói rằng với chúng sở hữu là luật, sức mạnh là đúng, kết quả là quyền lực tối cao của kẻ mạnh nhất.
13.
“Buster” để con của mình cho tôi chăm sóc
Tôi thích tình tiết nhỏ thương tâm này, mặc dù nó làm tôi buồn và tôi ước mình có thể mô tả nó như nó đã thực sự xảy ra.
Buster đến đây vào một buổi chiều, trong mùa đông thứ hai tôi làm bạn với lũ chim bồ câu, kèm theo một con chim non nhỏ không lớn hơn một con chim sẻ béo là mấy. Tôi đã không chứng kiến sự tiếp cận này và không thể tưởng tượng được làm thế nào mà một con chim bồ câu nhỏ và non như vậy lại có thể bay một quãng đường từ chuồng Buster đến Quảng trường.
Nhưng việc đó đã hoàn thành, vì chúng đã ở đó, hạnh phúc bên nhau. Buster đang dạy đứa trẻ ăn bánh mì vụn, mổ vào đồ ăn nếu nó cố nuốt một miếng lớn, con chim non khóc “Wee-đu!” khi được cha mẹ khuyên răn.
Một lúc sau, vài con chim bồ câu đói đến, xô đẩy nhau trong sự háo hức. “Bi-Bi” bé nhỏ, như tôi đặt tên cho nó, đang đứng trên bậu cửa sổ, và trong đám bồ câu đông đúc bị đẩy ra và biến mất.
Buster run rẩy từ đầu đến chân, bay xuống, lúc này xuất hiện trên nóc ngôi nhà đối diện, chăm chú nhìn qua. Sau đó nó bay xuống một tầng, vẫn nhìn xuống phía dưới một chút; rồi tiến đến cửa sổ của tôi, vẫn còn run rẩy. Nó nhìn chằm chằm vào phòng khách ở mọi ngóc ngách, từ sàn nhà đến trần nhà.
“Chú chim nhỏ không có ở đây, Buster,” tôi nói với nó, và như thể hiểu tôi, nó vội vàng bay đi, về phía chỗ ngủ của mình, nhưng ngay lập tức quay lại, lại ngó vào phòng, rồi lại bỏ đi.
Chiều đã tàn, mặt trời đã lặn, chim bồ câu đã về tổ hết. Buster đã tìm kiếm gần một giờ đồng hồ thì, trước khi trời tối, nó và Bi-Bi xuất hiện trên Quảng trường, chú chim nhỏ dường như không bị thương. Chúng cùng nhau ăn tối một lúc rồi, nhờ sự hiểu biết nào đó, chúng đi đến một góc nhỏ bên cửa sổ, và Bi-Bi rúc vào người. Buster đứng cạnh nó, dịu dàng mổ nó từ đầu đến chân cho đến khi Bi-Bi nhắm mắt lại và mãn nguyện chìm vào giấc ngủ. Sau đó Buster vội vã bay về tổ của mình.
Sáng sớm hôm sau, tôi đi tìm Bi Bi. Buổi sáng trời rất lạnh, khi bước vào phòng khách, tôi phát hiện Buster và Bi-Bi đang ôm chặt nhau trong một góc kín của Quảng trường. Buster rõ ràng đã đến để chăm sóc chú chim nhỏ và đưa chú đến Quảng trường với hy vọng rằng tôi sẽ đến để phân phát những mẩu vụn bánh mì. Tôi bày ra một bữa ăn cho chúng, và ngay khi Bi-Bi bắt đầu quan tâm đến những mẩu vụn nhỏ xíu trên tay tôi, Buster đã bay đến chỗ ngủ của chú mà không để ý đến tiếng kêu “Wee-wee-wee!” của chú chim con bị bỏ rơi.
Chúng tôi tự hỏi Buster đã có âm mưu gì khi để con chim bồ câu nhỏ của mình ở cửa sổ nhà chúng tôi và kết luận rằng tổ của chú có thể đông đúc do có hai con chim non, như thường lệ. Chắc hẳn chú ta đã suy nghĩ thấu đáo và đi đến kết luận rằng đứa con bé bỏng của chú sẽ hoàn toàn an toàn trong sự chăm sóc của tôi, sẽ được cho ăn đầy đủ và được đối xử dịu dàng.
Tuy nhiên, trong ba ngày, chú lặp lại hành động của cha mẹ là ở lại với Bi-Bi cho đến khi chạng vạng, và khi tất cả chim bồ câu đã bay về nhà trong đêm, chú và Bi-Bi sẽ đi bộ khoảng hai feet đến góc tường, ngay bên cạnh cửa sổ, và Buster sẽ “xoa bóp” những chiếc lông nhỏ, rồi vội vã về tổ của mình.
Một buổi chiều tuyết rơi dày đặc, bay vào ổ của Bi-Bi, và tôi khuyến khích nó dành thời gian ở gần tôi, mở cửa sổ để có thể bảo vệ nó khỏi những con chim bồ câu già hơn, chúng phản đối việc nó nhận được quá nhiều sự quan tâm. Buster đến trước khi mặt trời lặn, ở lại với Bi-Bi cho đến khi những con khác rời đi; sau đó, bằng sự hiểu biết bí ẩn hoặc sự sắp xếp trước nào đó, Buster mổ Bi-Bi, người đang ngủ say, và cả hai bay tới chỗ ở của Buster. Sáng hôm sau chúng cùng nhau trở về, tôi một tay đón Bi-Bi, tay kia đút cho nó ăn; và Buster, có vẻ hài lòng, vội vã quay trở lại tổ.
Sau đó, Buster dường như nghĩ rằng đứa con bé bỏng của mình có thể tự chăm sóc bản thân, không còn để ý đến nó nữa, ngoại trừ thỉnh thoảng mổ nó khi nó vẫn ăn quá lâu từ tay tôi. Thật không may, cho đến sau này, tôi đã không hiểu rằng Buster hiểu rõ hơn tôi về khả năng ăn uống của một con chim non. Nhận thấy rằng những con chim lớn hơn không bao giờ ăn quá nhiều, tôi cho rằng điều tương tự cũng áp dụng cho chim con, và đã quá muộn khi biết rằng tôi đã cho bé Bi-Bi ăn quá nhiều.
Tôi có thói quen ngồi bên cửa sổ, hộp đồ ăn vụn bên cạnh và một hộp nhỏ hơn, đựng thức ăn cho chim bồ câu, đặt trong lòng, phân phát cho những cái mỏ nhỏ đang giơ lên háo hức. Nhưng Bi-Bi có kiểu Nhảy lên đùi tôi và vào trong hộp, nơi tôi cho phép nó dùng bữa mà không bị quấy rầy. Một ngày sau bữa tiệc này, nó đi tìm cái chậu để uống nước, do đó gây ra chứng khó tiêu mà nó không bao giờ khỏi bệnh.
Trước đó, vào mỗi buổi tối lúc hoàng hôn, nó sẽ tìm chỗ ngủ nhỏ bên cửa sổ, và trước khi đóng cửa sổ để nghỉ đêm, chúng tôi sẽ nhìn ra ngoài và nói chuyện với nó — cậu bé tội nghiệp, cô đơn và nói, “Chúc ngủ ngon, Bi- Bi!”. Nó sẽ mở đôi mắt nhỏ của mình, chớp mắt đáp lại, rồi đi ngủ khi chúng tôi đóng cửa sổ một cách im lặng.
Nhưng khi bị bệnh, nó lúc nào cũng có vẻ ớn lạnh, run rẩy liên tục; và thay vì bay đi tập thể dục, nó sẽ vào phòng một lúc, như thể để sưởi ấm, nhưng lại tìm nơi trú ẩn vào lúc hoàng hôn.
Một đêm rất lạnh, tôi để cửa sổ mở một phần từ phía dưới phòng trường hợp nó muốn vào; tuy nhiên, hầu như không mong đợi rằng nó sẽ chấp nhận lời mời ngụ ý; vì tôi luôn hiểu rằng chim không bao giờ rời tổ cho đến khi trời sáng.
Nhưng trái ngược với suy đoán của tôi, trong bóng đêm bé Bi-Bi đi đến cửa sổ và vào căn phòng tối; Khi bật đèn điện, tôi phát hiện ra một thân hình nhỏ bé đáng thương nằm trên sàn, ngay bên trong cửa sổ. Tôi bật lò sưởi và nói chuyện trìu mến với nó trước khi rời khỏi phòng.
Vào buổi sáng, tôi thấy nó đã đi đến bộ tản nhiệt, biết ơn vì hơi ấm, nhưng rõ ràng là nó đang bị chứng khó tiêu cấp tính, bộ ngực nhỏ của nó phập phồng khi nó thở hổn hển. Tôi bế nó vào tay, và chú chim nhỏ tội nghiệp liền nôn ra hai miếng ngô nhỏ mà tôi đã cho nó ăn chiều hôm trước.
Nó có vẻ ốm yếu và lạnh đến nỗi tôi đã sắp xếp cho nó một cái tổ nhỏ trên một chiếc bàn ăn gần cửa sổ; nhưng vì bị lũ chim bồ câu làm phiền, hoặc vì một lý do nhỏ nào đó của riêng mình, nên nó thích nằm trên sàn hơn; và tôi đã làm cho nó cảm thấy thoải mái nhất có thể, trong khoảng thời gian ngắn ngủi của cuộc đời nhỏ bé của nó.
14.
Một con chim bồ câu vận chuyển và một vài con khác
Đối với tôi, luôn có điều gì đó nên thơ về một con chim bồ câu chở hàng, nhưng con chim xinh đẹp đến bên cửa sổ nhà chúng tôi vào một ngày lạnh giá cuối mùa đông lại rất vật chất, đói, khát và lạnh. Chúng tôi đối xử với nó hết sức hiếu khách, nhưng vì nó không được thuần hóa như những con chim bồ câu của chúng tôi nên chúng tôi không thể giải mã được con số trên chiếc vòng bạc quanh chân nó.
Sau này, khi nó đã trở nên khá thuần phục và chọn được một người bạn đời ở “Quảng trường”, đàn chim đã trở nên hoen ố đến mức huyền thoại cũng bị xóa nhòa. Vào đầu mùa xuân, ngôi nhà nhỏ của chúng tôi lâm bệnh nặng và phải dưỡng bệnh kéo dài; điều sau mang lại nhiều cơ hội cho việc nghiên cứu thú vị về bản chất của chim bồ câu.
Vào khoảng thời gian này, một thế hệ hấp dẫn đã xuất hiện, và mặc dù chúng tôi không học được điều gì mới về đạo đức của chim bồ câu, cũng như không có điều gì chúng tôi chưa thu thập được, tuy nhiên, chúng tôi vẫn cảm thấy thích thú trước đám đông những chú chim non, những người nhìn thấy cha mẹ mình được thuần hóa nên thậm chí còn trở nên thích thú hơn.
Chú chim con của Bandy, Weeny, đã phát triển thành một chú bồ câu nhỏ đáng yêu nhất, thuần hóa như một chú mèo con. Nó thích thú ngồi trên vai tôi khi tôi ngồi bên cửa sổ cho chim bồ câu ăn, và khi quay đầu lại nói chuyện với nó, tôi sẽ hỏi, “Tôi có yêu Weeny bé nhỏ của tôi không?” Nó sẽ vươn cổ ra, đặt cái mỏ nhỏ bé của mình lại gần môi tôi. Nó là một sinh vật nhỏ bé đáng tin cậy, thích được vuốt ve, hoàn toàn không sợ hãi hay nghi ngờ bác sĩ hay tôi, nhưng không cho phép ai khác chạm vào nó.
Sau đó là “Pugie”, được đặt theo tên của cha mẹ chú là “Pugilist”, người rất nghiện đánh nhau và do đó đã nhận được cái tên không mấy đáng yêu. Chú ta không đẹp trai, Pugie bé nhỏ của chúng tôi, nhưng sở hữu một thứ gì đó đáng quý hơn nhiều, ở bản tính tình cảm, tận tụy, khiến hoàn toàn chiếm được cảm tình của chúng tôi.
Chú đã được rời khỏi tổ mẹ từ khi còn nhỏ, và thật thảm hại khi chứng kiến cảnh chú ta đuổi theo mẹ mình khắp quảng trường, vỗ cánh, giơ mỏ nhỏ về phía mẹ, cầu xin được công nhận. Mẹ chim luôn quay lưng lại với chú, phớt lờ câu ““Wee-đu!” nhỏ nhẹ ai oán của chú. Và vì chú rất kiên trì nên mẹ chú thường rời khỏi “Quảng trường”.
Màn biểu diễn nho nhỏ này kéo dài trong vài ngày, cho đến khi dần dần chú chim Pugie hài lòng với sự cưng chiều của chúng tôi; sau đó chú chuyển tình cảm của mình sang chúng tôi, vui vẻ rung rinh từ Quảng trường đến vai chúng tôi khi chúng tôi bước vào phòng khách. Nhưng, giống như tất cả những con chim bồ câu, chú ta có khả năng sáng suốt tuyệt vời khi không bao giờ nhầm lẫn bất kỳ người nào khác với Bác sĩ hay tôi. Bất kỳ ai khác đến gần cửa sổ hoặc đưa ngũ cốc ra, luôn là tín hiệu cho chuyến bay vội vã của chúng.
“Doodle”, một con bồ câu non đẹp giống Chantecler, được nhân cách hóa hoạt bát. Chú cũng cầu xin sự công nhận từ cha mẹ mình nhưng không nhận được gì, Chú cũng không tiếc lời biểu tình với chúng tôi. Đối với Pugie, Bác sĩ là điểm thu hút đặc biệt của chú, và chú sẽ lao vào phòng với cảm giác phấn khích tột độ, đến chiếc ghế Morris, đậu trên vai bác sĩ, dỗ dành để được vuốt ve và cho ăn.
Mỗi buổi sáng, người giúp việc của tôi sắp xếp chiếc ghế bành và bàn đọc sách của Bác sĩ gần cửa sổ, với một tấm vải vụn còn mới và rộng phủ trên thảm và một tấm khăn trải bàn màu trắng; và ở đây, trong một khoảng thời gian mỗi ngày, chim bồ câu được phép vào nơi mà tôi gọi là “Sân chơi của chim bồ câu”. Chúng rất trân trọng đặc ân này, dường như vô cùng hạnh phúc, đến nỗi sau này chúng tôi gọi nó là “Thiên đường của Bồ câu”.
Doodle và Pugie rất ghen tị với nhau và có nhiều lần chạm mặt nhau trên chiếc ghế lớn. Pugie, người lớn hơn và khỏe hơn, không hài lòng khi Doodle còn lại trên vai hoặc tay của Bác sĩ và sẽ truy đuổi chú ta hết nơi này đến nơi khác, Doodle thường tìm nơi ẩn náu trên đầu của Bác sĩ.
Một buổi sáng, chú chim nóng nảy bay vào phòng, đậu trên tủ và vô cùng ngạc nhiên khi nhìn hình ảnh phản chiếu đẹp trai của mình trong gương; Tuy nhiên, không làm chú hài lòng. Tưởng nhầm hình ảnh phản chiếu của mình với một con chim bồ câu khác, chú ta ngay lập tức tỏ ra không đồng tình bằng cách xoay tròn từ chân này sang chân khác, phát ra âm thanh khàn khàn mà chúng tôi gọi là “mắng mỏ”.
Chú ta càng tiến gần đến hình ảnh phản chiếu nhỏ bé xinh đẹp của mình, mỗi lúc càng trở nên cáu kỉnh và tức giận hơn trước điều mà rõ ràng chú ta coi là sự xấc xược của kẻ xâm nhập này. Khi đến khá gần hình ảnh phản chiếu của mình, chú ta thực hiện một nụ hôn giận dữ, và việc đập vào gương dường như bị thuyết phục về sự điên rồ của mình, và có vẻ rất xấu hổ, chú ta vội vã bỏ đi.
Một buổi chiều mùa xuân đẹp trời, tôi trở về nhà và thấy, như thường lệ, “Câu lạc bộ Điểm hẹn” nhỏ, như chúng tôi gọi, đang tụ tập trên Quảng trường, đang tắm nắng. Vì đang cân nhắc mua một bộ trang phục mới, tôi lặng lẽ băng qua hành lang, sợ hãi khi chúng gặp tôi sẽ được đón tiếp nhiệt tình. Tôi kéo tấm rèm sang một bên để ngắm nhìn khung cảnh thân thương của tôi; nhưng ngay cả một chuyển động nhỏ cũng được phát hiện bởi đôi tai nhỏ bé, luôn cảnh giác khi tôi đến gần.
Doodle phát hiện ra tôi và bay vào chiếc ghế gần nhất, đầy mong đợi nhưng cũng nửa sợ hãi vì sợ rằng đó sẽ là một ai đó không phải là người mà tất cả chúng đang chờ đợi. Tôi muốn giữ nó xa cách, nhưng không muốn làm nó sợ, nên chỉ thốt ra một âm thanh trầm trầm “Boo! ù!”
Nhưng tôi không thể lừa được tên nhóc nhỏ bé đó, nó ngay lập tức bay ngang qua phòng, đậu trên vai tôi, nhìn vào mặt tôi với nụ cười thực sự trong đôi mắt sáng đẹp của nó, và hôn nhẹ vào má tôi, như muốn nói: “Tôi biết bạn! Bạn không thể lừa tôi!
Tính nóng nảy thường khiến nó gặp rắc rối; một lần, với một kết quả rất thảm hại. Một ngày nọ, nó theo tôi vào phòng ngủ, vỗ nhẹ vào vai tôi, thốt lên một âm thanh vui mừng nho nhỏ đặc biệt của nó mà chúng tôi so sánh với tiếng gừ gừ của một con mèo con. Tuy nhiên, khung cảnh xa lạ xung quanh khiến nó bối rối, và vào lúc đó, một tiếng động bất ngờ bên ngoài vang lên, nó cố gắng lao vội qua cửa sổ. Bóng râm được hạ xuống một phần, đôi cánh của nó vướng vào sợi dây, càng vùng vẫy thì tình hình càng trở nên tồi tệ.
Tôi vội chạy tới chỗ nó, cố gắng giải thoát, nhưng sự phấn khích và sợ hãi phản kháng của nó khiến nhiệm vụ gần như không thể thực hiện được. Tôi một tay ôm nó vào lòng, tay kia cố gắng gỡ sợi dây ra, nói lời dịu dàng với nó; và lúc này nó đã ngừng chống cự, và tôi khen ngợi nó vì sự ngoan ngoãn.
Trong giây lát tôi đã tháo sợi dây ra và nó được tự do ra đi. Nhưng trước sự kinh ngạc của tôi, nó nằm mềm nhũn và bất động trong tay tôi. Nó cứ như vậy trong vài phút, và với cảm giác kinh hãi, tôi gọi người giúp việc của mình, nói với cô ấy rằng tôi sợ Doodle bé nhỏ đã chết vì sợ hãi.
Bây giờ, với sự nhẹ nhõm tột độ của mình, tôi cảm thấy một nhịp đập nhẹ qua thân hình nhỏ bé của nó, và tôi bế nó đến phòng khách, đến Quảng trường, nơi những con chim bồ câu khác đang ở, và mở mắt ra khung cảnh quen thuộc, nó bay ra ngoài. Trông nó có vẻ ngơ ngác khi đứng đó thở hổn hển, vẫy cánh để chỉnh lại bộ lông xù xù của mình; và sau đó, thậm chí không cần uống nước, nó bay nhanh về tổ của mình.
Đó là trải nghiệm đầu tiên của tôi và tôi tin rằng đó sẽ là trải nghiệm cuối cùng của tôi, về một con chim bồ câu nhỏ ngất đi trong tay tôi.
Tuy nhiên, kể từ đó tôi đã có trải nghiệm đau đớn hơn khi một con chim bồ câu nhỏ chết trong tay tôi. Và khi cuộc sống nhỏ bé đang dần tàn lụi, nó bắt gặp ánh mắt của tôi khi tôi ôm nó vào lòng, nói một cách trìu mến với nó; Nó lúc này nhắm đôi mắt mệt mỏi lại, dường như đang chìm vào giấc ngủ và có những giấc mơ êm đềm. Đôi cánh nhỏ dang rộng như chờ bay, cái đuôi xòe ra, hình dáng nhỏ xíu rung rinh, chú bồ câu nhỏ của tôi đã ra đi.
Sau đó là “Happy”, một chú bồ câu non thú vị nhất với mong muốn duy nhất là làm hài lòng mọi người. Nó cũng là một người rất được bác sĩ yêu thích, và thật buồn cười khi thấy ba đối thủ nhỏ bé ghen tị đang cố gắng đuổi nhau ra khỏi khu vực gần chiếc ghế morris.
Happy có một trò “đóng thế” rất thú vị mà chúng tôi gọi là “chơi bóng với Happy”. Chính tôi là người khởi xướng, trước sự vui mừng rõ ràng và sự hiểu biết nhanh chóng của Happy về phần trình diễn của nó.
Bác sĩ ngồi trên ghế morris với thức ăn cho chim bồ câu bên cạnh, đặt vài hạt trong tay và gọi Happy cho anh; Tôi, ngồi ở đằng xa, cũng với thức ăn cho chim bồ câu, sẽ gọi: “Đến đây, Happy!” và do đó, dường như nó sẽ say mê trong trò chơi nhỏ này. Nó có vẻ sẵn sàng chơi vô thời hạn và tỏ ra thất vọng khi chúng tôi ngừng chơi vì vóc dáng nhỏ bé của nó, sợ làm nó mệt và cũng cho nó ăn quá nhiều.
Nhưng có vẻ như nó rất mong muốn được làm hài lòng Bác sĩ; và nếu tôi đang ở một phần khác của căn phòng, hoặc bị chiếm giữ, nó vẫn muốn giải trí. Sau khi ăn vài hạt từ tay bác sĩ, nó sẽ bay ra sau ghế, đậu ở đó một lúc rồi quay lại với bác sĩ. Nó dường như nghĩ rằng màn trình diễn nhỏ đó đã được mong đợi ở nó và lặp đi lặp lại hành động này.
Nó và Pugie đã điều chỉnh sự cạnh tranh nhỏ bé của chúng để có được tình cảm của Bác sĩ bằng cách giao phối vui vẻ; và tôi rất vui được cung cấp vật liệu cho ngôi nhà mới của chúng và hỗ trợ cô dâu nhỏ trong việc vận chuyển.
15.
Jack và Jill – Những tên trộm
Khoảng thời gian này, một giai đoạn rất đẹp trong cuộc đời của chim bồ câu đã xuất hiện, với sự xuất hiện của hai chú chim con sinh đôi nhỏ, “Jack và Jill”, bị bỏ lại bên cửa sổ nhà chúng tôi. Rõ ràng cha mẹ chúng đã dặn chúng rằng góc bậu cửa sổ sẽ là chỗ ở tương lai của chúng; và khi, vào lúc hoàng hôn, những con bồ câu khác đã tìm chỗ ngủ cho riêng mình, Jack và Jill nép vào nhau.
Tuy nhiên, trước khi đi ngủ, chúng “xoa bóp” cho nhau, giống như chim bố mẹ và chim bạn tình làm với nhau. Vào buổi sáng, màn trình diễn nhẹ nhàng đó được lặp lại, và sau đó, vào mỗi buổi tối trước khi nghỉ ngơi và mỗi buổi sáng khi thức dậy. Chúng là một cặp chim con tình cảm, thực sự hết lòng vì nhau, mặc dù chiếc mỏ nhỏ của chúng đã sẵn sàng mổ những con bồ câu khác.
Một ngày nọ, một cơn bão đe dọa làm tối đi hoàng hôn, và tất cả chim bồ câu vội vã về nhà. Cặp song sinh tội nghiệp chưa bao giờ nhìn thấy bão và tỏ ra rất sợ hãi khi gió nổi lên. Đó chỉ là một cơn bão mùa xuân, nhưng tôi đã đóng cửa sổ lại vì gió giật rất mạnh. Bị đóng cửa, Jack và Jill khá sợ hãi, dùng mỏ bao vây ô cửa sổ và kêu lên: “Wee-weewee!”
Lời kêu gọi của chúng thật thảm hại đến nỗi tôi đã mở cửa sổ lên và hai con chim bồ câu nhỏ biết ơn bay vào, tìm nơi ẩn náu trên bộ tản nhiệt, nơi chúng nép mình xuống, hài lòng nhìn quanh phòng.
Khi cơn bão dịu đi, tôi nhẹ nhàng đưa chúng về chỗ ngủ quen thuộc, nhưng chúng không muốn ở bên ngoài mà cứ bay vào trong khi tôi lặp đi lặp lại việc di chuyển. Mặc dù việc nuôi dưỡng những con chim bồ câu khỏe mạnh là trái với ý thức của tôi, nhưng tôi không nỡ nài nỉ, một giọng nói thuyết phục từ bên trong đang cầu thay cho chúng – một giọng nói luôn cất lên thay cho những tạo vật câm lặng của Chúa – và tôi dọn một chiếc giường nhỏ trên lò sưởi, gần cửa sổ, nơi chúng ngủ ngon lành, sau màn “xoa bóp” thông thường.
Và chúng đã trở thành những đứa con cưng quý giá biết bao khi cống hiến hết mình cho Bác sĩ! Chúng ghen tị với những con chim bồ câu khác nhưng không ghen tị với nhau. Mỗi ngày sau khi anh cho chúng ăn xong, chúng sẽ đậu trên mỗi vai một con và chim bồ câu âu yếm anh: những nụ hôn nhẹ nhàng quanh cổ, tai, má và quanh mắt, đôi khi nhắm lại một cách nguy hiểm.
Ngoài ra, sau khi nhận ngô từ tay anh ấy, chúng sẽ trải qua một quá trình “làm móng tay” nhỏ theo một phong cách trang nhã đặc biệt của riêng chúng. Đôi khi chúng đậu trên đầu gối anh và nghịch tua áo anh, hoặc đáp xuống đôi chân mang dép của anh và bắt chéo nhau một chút, một dấu hiệu khác của tình cảm của chúng. Hoặc, nếu anh đang chăm chú đọc sách hoặc báo, chúng sẽ ngồi trên sàn, gần anh, trong một tư thế đẹp đẽ mà tôi gọi là “nói lời cầu nguyện”.
Cô bé “Squabsy” mà chúng tôi không hề biết cha mẹ, sinh ra ở độ tuổi còn rất yếu ớt. Trái tim tôi đã đồng cảm với sinh vật nhỏ bé này ngay khi tôi nghe thấy tiếng than vãn của nó “Wee-đu!” để phản đối cách đối xử thô lỗ của những con chim lớn hơn đối với nó. Tôi dụ dỗ nó vào tay mình, con vật bé nhỏ mềm mại, nó giống như một mảnh rêu, không có chất gì. Khi đã quen với bàn tay của tôi, nó không muốn rời xa, và trong vài ngày tôi đã dành nhiều thời gian để chăm sóc và cho nó ăn uống một cách thận trọng.
Nó dường như đang bị một số vấn đề về cổ họng – tôi được biết là chim bồ câu dễ mắc bệnh bạch hầu – và khó nuốt. Tôi đã chọn những hạt thức ăn nhỏ nhất cho chim bồ câu mà nó có vẻ thích, và trong vòng chưa đầy một tuần, nó đã tiến bộ hơn rất nhiều, phát triển thành một chú chim bồ câu nhỏ vui vẻ, tươi sáng. Nó nhanh chóng trở nên khá có khả năng tự chăm sóc bản thân, thậm chí đến mức tìm kiếm khắp phòng để tìm chiếc hộp đựng thức ăn cho chim bồ câu; và nếu tìm thấy tấm bìa trên đó, nó lập tức thử mở nó bằng cái mỏ nhỏ xíu của mình.
Và đó là một trong vô số trò đùa về chim bồ câu của chúng tôi khi gọi sinh vật nhỏ bé dịu dàng này với đôi mắt dịu dàng, lôi cuốn là “kẻ trộm!”
16.
Bị bắn trên cánh đồng bắp
Bi kịch nhỏ này, với sự kết thúc có hậu, hoàn toàn liên quan đến “Temper”, người sẽ không xuất hiện trong những trang này mà ngoại trừ trải nghiệm ly kỳ của chú ta vào một ngày định mệnh. Chú là một con chim bồ câu đẹp trai, có màu xám nhạt và trắng, với đôi mắt biểu cảm tuyệt vời. Chú đã đến bên cửa sổ một thời gian trước khi chúng tôi trở thành bạn bè, vì tính tình không đáng yêu của chú.
Chú ta hiếm khi ăn ở Quảng trường, thường đến uống nước sau chuyến bay qua Hudson, đến cánh đồng Jersey. Nhưng khi ở với chúng tôi, chú tỏ ra hung dữ với những con chim bồ câu của tôi, và tỏ ra cáu kỉnh, thờ ơ trước những lời đề nghị của tôi để lấy lòng tin của chú.
Nhưng một ngày nọ, chú ta trở về từ Jersey trong tình trạng đáng thương, bị thương nặng trong khi đang trộm ngô. Ngực chú ướt đẫm máu đỏ thẫm; vạt áo của chú, đầy hạt chín tươi, nhô ra ở nơi phát súng đã bắn vào. Đôi chân của chú gần như không thể giữ được chú, và đôi mắt thảm hại như vậy mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy: vẻ mặt gần như là một tiếng kêu đau đớn và hoang tàn khi chú tìm đồ uống ở chậu chim bồ câu.
Chú ta làm dịu cơn khát bằng những ngụm thở hổn hển, và trong nỗ lực của chú, tôi đã đếm được hơn chục miếng ngô tươi, màu vàng trong chiếc bắp căng mọng của chú. Tôi quỳ xuống bên cạnh chú, nói chuyện nhẹ nhàng, bày tỏ rõ ràng với chú rằng tôi muốn giúp chú. Chú chim hiểu rõ tôi, và nhìn tôi bằng ánh mắt khẩn khoản, đáng thương, vừa biết ơn vừa khẩn cầu, trước khi bay về chỗ trú của mình, may mắn thay, chỉ cách đó một quãng ngắn.
Cuối ngày, chú quay lại uống thêm một ngụm nước nữa, và tôi đã bảo vệ chú khỏi sự thô lỗ của lũ bồ câu đã đẩy chú ra khỏi chậu. Một số kẻ không thể kìm nén thậm chí còn cố gắng lấy ngô từ vụ mùa của chú ta, điều này có thể nhìn thấy rõ ràng qua lớp da. Điều này khiến Temper vô cùng tức giận, nhưng chú quá yếu để có thể tự vệ.
Với trí thông minh tuyệt vời, chú chim hiểu rằng tôi đang kết bạn với chú, và đứng gần tay tôi khi tôi gạt những con chim bồ câu khác, thậm chí cả những con vật cưng đặc biệt của tôi, sang một bên trong nỗ lực cho chú ăn. Chú có vẻ đói nhưng khó nuốt, và tôi cho chú ăn từng hạt một, từng miếng nhỏ nhất. Chú ta muốn uống nước, và tôi vòng tay ôm lấy chú để những con chim khác không làm phiền chú. Chú nhìn tôi với ánh mắt biết ơn dịu dàng từ đôi mắt buồn bã, biểu cảm rồi từ từ bay đi.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy lúc bình minh và suy nghĩ đầu tiên của tôi là về Temper. Tôi đi vào phòng khách và không mấy ngạc nhiên khi thấy chú đứng một mình ở cửa sổ, vẫn còn quá sớm để lũ bồ câu bay đến.
Tôi ngồi bên cửa sổ và chú đến gần tôi, ánh sáng đẹp đẽ trong mắt chú như tôi đã thấy ngày hôm trước. Tôi cho chú ăn từng hạt một cho đến khi cơn đói của chú dường như đã dịu đi và chú nhấp một ngụm nước nhỏ. Sau đó chú đứng gần tôi, nhìn vào mắt tôi khi tôi nói chuyện với chú. Lúc này những con chim bồ câu khác đã đến và Temper bay đi.
Mỗi buổi sáng, vào giờ nghỉ trưa, chúng tôi đều tổ chức cuộc hẹn nho nhỏ của mình. Đôi khi tôi đến đó trước nhưng không phải đợi Temper lâu. Vào những lúc khác, chú ta đang đứng chờ đợi, nhìn đăm đăm vào bên trong, và khi tôi đến gần cửa sổ sẽ tiến lại gần tôi. Tôi âu yếm nói chuyện trong khi cho chú ăn, và chú đáp lại bằng đôi mắt đăm chiêu; và luôn luôn khi những con chim bồ câu khác đến sẽ bay đi.
Tuy nhiên, chú sẽ quay lại vào cuối ngày để ăn một bữa khác, nhưng kết quả không mấy vui vẻ, những con chim bồ câu khác tỏ ra phẫn nộ vì sự quan tâm mà chú nhận được. Chú ta hiểu rõ rằng tôi đang kết bạn với chú, luôn ở gần trong tay tôi, tin tưởng vào sự bảo vệ của tôi.
Và vì vậy, tôi chăm sóc chú ngày này qua ngày khác, đảm bảo cho chú những dinh dưỡng cần thiết và dành cho chú sự cảm thông mà chú dường như rất trân trọng. Lúc đầu, chúng tôi lo sợ đây là một trường hợp vô vọng, ngay cả bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ cũng quan tâm đến người được tôi bảo trợ nhưng không khuyến khích tôi chút nào; và tôi quyết tâm ít nhất sẽ nuôi dưỡng và cổ vũ chú đến cùng.
Nhưng Tự nhiên đã tỏ ra là một người mẹ dịu dàng nhất và vết thương trên ngực chú bắt đầu lành lại.
Chúng tôi tự hỏi liệu khi sức khỏe hồi phục, chú có tiếp tục cư xử cáu kỉnh hay không – hay liệu chúng tôi có thể mong đợi một chú chim bồ câu nhỏ sẽ ghi nhớ lòng tốt và biết ơn không? Tôi cảm thấy điều đó không quan trọng, mong muốn duy nhất của tôi là giảm bớt nỗi đau khổ của chú và giữ cho chú được nuôi dưỡng.
Sự hồi phục của chú dường như gần như kỳ diệu, vết thương quá khủng khiếp; nhưng Mẹ Thiên nhiên đã chăm sóc tuyệt vời cho trường hợp này, và vết thương hở đã được chữa lành theo cách mà người ta chỉ mong đợi từ sự điều trị của chuyên gia.
Temper đã sớm trở lại là chính mình, có thể tự đứng vững trên Quảng trường và thường xuyên là kẻ gây hấn như ngày xưa. Nhưng đối với tôi thái độ của chú vẫn là dịu dàng và tâm sự. Có vẻ như chú không mấy vui vẻ trừ khi ở gần tôi, dù không còn cần đến sự bảo vệ của tôi nữa.
Một buổi sáng nọ, tôi đã cho chúng ăn sáng sớm và quay trở lại phòng thay đồ, lúc này tôi giật mình khi thấy con chim bồ câu màu xám xinh đẹp này dưới chân mình. Chú ngước lên nhìn tôi, kiên nhẫn nhìn cho đến khi tôi sẵn sàng quay lại phòng khách, rồi đi theo tôi.
Hành động này được lặp lại trong nhiều buổi sáng. Chú không đói; Tôi đã cho chú ăn uống đầy đủ; chú chỉ đơn giản mong muốn được ở gần tôi. Và điều kỳ lạ là chú không bay theo tôi: khi tôi rời khỏi Cửa sổ Bồ câu, chú chỉ đáp xuống sàn và đi bên cạnh tôi. Sau đó chú sẽ ở gần tủ quần áo, dưới chân tôi, cho đến khi tôi sẵn sàng quay lại, khi đó chú sẽ lặng lẽ đi theo tôi. Hành động của chú có vẻ kỳ dị, không giống một con chim đến mức tôi gọi chú là “con chó nhỏ màu xám của tôi”.
Và thế là chúng tôi trở thành những người bạn tận tụy, chú mỗi ngày một mạnh mẽ hơn và gắn bó hơn; và tôi có mọi lý do để cảm thấy tự hào về kết quả nỗ lực của tôi vì chú, vì tôi được biết rằng nếu không có nguồn dinh dưỡng phù hợp thì chú chắc chắn đã chết.
Chú sẽ nhìn vào mắt tôi khi tôi nói chuyện với chú và gần như trả lời tôi; và tôi nhanh chóng học cách yêu “chú chó nhỏ màu xám của mình”.
17.
Một số trò vui của chim bồ câu
Cách đây nhiều năm, khi tôi đến thăm St. Augustine lần đầu tiên, khi tàu đến, tôi đã rất thích thú khi được chứng kiến màn trình diễn của một số người da đen nhỏ bé, chân trần trên sân ga. Để thu hút sự chú ý, ngưỡng mộ và tán thành, và nhân tiện có một vài đồng xu, họ đã thực hiện một động tác nhào lộn nho nhỏ là đứng bằng đầu và lộn nhào.
Một số con chim bồ câu của tôi biểu diễn một chút “đóng thế” gợi lại sự kiện Thánh Augustinô, “Người vận chuyển” là người khởi xướng.
Một ngày nọ, ngồi gần cửa sổ, say sưa ngâm nga một trong những bài sonnet tuyệt vời của John Kendrick Bangs, tôi bị gián đoạn bởi nỗ lực thu hút sự chú ý của Carrier. Tôi có thể mô tả tốt nhất màn trình diễn của chú như một nửa vòng tròn hoặc một cây cung, chú thực hiện bằng cách nhảy lên khoảng hai feet, hạ cánh ở một khoảng cách ngắn so với điểm xuất phát. (Khi muốn trở nên thật ấn tượng, chú leo lên cao hơn và khoảng cách xa hơn, đôi khi vô tình đáp xuống lưng một con chim bồ câu.)
“Điều đó thật tuyệt vời, Carrier!’ Tôi đảm bảo với hmi, sau đó tôi được thưởng thức một màn tiếng kêu đòi hát nữa. Sau đó tôi trả ơn chú bằng một hạt ngô to và mịn. Màn trình diễn được lặp lại, chú lại được khen thưởng, nhận thêm một miếng ngô.
Những con chim bồ câu khác nhìn với vẻ ngạc nhiên và ngưỡng mộ, trộn lẫn với nhau, tôi sợ là ghen tị khi thấy Carrier là người nhận được hạt yêu thích; sau đó Buster đã cố gắng thực hiện kỳ tích đó một cách rất vụng về, nhưng tất nhiên đã được khen thưởng cho nỗ lực của mình.
‘Sau đó, hai hoặc ba con khác mạo hiểm biểu diễn, với kết quả buồn cười, nhận được những lời chỉ trích gay gắt từ Carrier vì đã can thiệp vào “buổi biểu diễn” của chú; Carrier rõ ràng không đánh giá cao việc bắt chước là lời tâng bốc chân thành nhất. Tuy nhiên, chú rất hài lòng với sự thành công của màn trình diễn của mình, sau đó chú chào tôi mỗi sáng khi tôi bước vào phòng khách. Những kẻ bắt chước chú luôn nhanh chóng làm theo; và từ đó trở đi, dù không bỏ sót con chim bồ câu nào, tôi vẫn luôn dành một đĩa ngô cho “người tài”.
“Winton,” một con chim đặc biệt thông minh, là kẻ bắt chước Carrier không thành công, một ngày nọ, đã giúp chúng ta giải trí bằng một màn biểu diễn nhỏ của riêng mình. Những con chim bồ câu có chút không hài lòng: “Ối! Ough!’ khi có điều gì đó làm chúng khó chịu. Ví dụ, nếu ai đó đến gần khi tôi và Bác sĩ đang giải trí cho chúng bằng ngô và sự vuốt ve, chúng sẽ bực tức khi bị gián đoạn và bày tỏ sự không hài lòng bằng âm thanh phản đối nho nhỏ của chúng.
Và vào một buổi sáng, khi tôi đang ngồi bên cửa sổ để phân phát đồ ăn nhẹ, người giúp việc của tôi bước vào phòng để đưa cho tôi những lá thư. Tôi quay sang nói chuyện với Mattie, đang đứng gần một cái bàn, thì Winton thốt lên lời phản đối “Ối! Ough!’ Không để ý đến chú, chú ta bay vào phòng, đáp xuống bàn, xoay tròn trước mặt Mattie, thốt ra âm thanh khàn khàn mà lũ chim bồ câu sử dụng với nhau, mà chúng tôi gọi là trách mắng. Tiếng cười của chúng tôi dường như làm chú ta bối rối và chú ta bay trở lại cửa sổ.
Tất cả đều khá quen thuộc với chiếc hộp đựng thức ăn cho chim bồ câu và nghểnh cổ chờ đợi khi tay tôi lại gần. Con này hay con khác đôi khi sẽ bay vào và đứng trên đó, như thể để khẳng định quyền sở hữu. Những con khác có thói quen đan chéo tấm chăn, giống như chúng làm với tay chúng tôi khi dỗ dành để được cho ăn.
Nhưng Happy vẫn phải thực hiện thành công việc tháo nắp một cách khéo léo, điều mà nó đã thực hiện rất khéo léo. Thật thú vị khi quan sát nó – nó quả là một chú chim bồ câu nhỏ thanh thản – tham gia vào nhiệm vụ của mình với sự cân nhắc bình tĩnh. Khi cố thử lần đầu tiên, nó bắt đầu bằng việc quan sát cẩn thận chiếc hộp trên bàn. Dạo quanh chiếc hộp, nó tiến hành một cách có phương pháp nhất để làm sáng tỏ bí ẩn về việc tiết lộ nội dung của nó.
‘Chiếc hộp có nắp trượt, có khía bằng ngón tay để mở; nhưng Happy hướng nỗ lực của nó sang một bên, đưa cái mỏ nhỏ của mình vào, cố gắng cạy nó ra. Không thành công ở một bên, nó thử bên kia, sau đó Bác sĩ đặt đầu ngón tay của mình lên vết khía, điều này ngay lập tức soi sáng cho Happy, ngay lập tức nó nhét mỏ vào và kéo nắp về phía trước.
Để khen thưởng sự khéo léo của nó, chúng tôi đã cho phép nó tham gia một cách thoải mái như chúng tôi cho là nên làm. Sau đó, nó không bao giờ phạm sai lầm khi tháo nắp; nhưng trong một lần, nỗ lực của nó không hề dễ dàng, và khi cuối cùng nó đã thành công, nó đã thể hiện một chút nóng nảy ngon lành bằng cách mổ chiếc hộp một cách ác độc trước khi ăn hạt.
Một trong những điều hài lòng nhất về sự cố chim bồ câu của tôi, cũng chứng tỏ khả năng thính giác nhạy bén của chúng, là việc Buster đáp lại lời kêu gọi của tôi.
Ngày xuân rực rỡ đã kết thúc, mặt trời đang chìm trong một quả cầu đỏ thẫm khi tôi đóng cửa sổ Bồ Câu vì trời đã tối. Cùng lúc đó, Buster bước xuống bên cạnh, nhưng khi nhìn thấy cửa sổ hạ xuống, chú ta ngay lập tức rời đi khi tôi vội vàng mở nó ra.
” Buster!” Tôi gọi, và dù chú ta đang ở bên kia đường, trên mái nhà, chú vẫn lập tức vòng quanh và trong chốc lát đã ở bên cạnh tôi. Sau đó tôi quan sát thấy mỏ của chú dính đầy thức ăn. Rõ ràng là chú ta đang cho chim con của mình ăn; và tôi dọn một bữa ăn khác cho chú. Chú đã đói lắm rồi! mặc dù ngay trước khi mặt trời lặn chú đã ăn uống vui vẻ với những con chim bồ câu khác. Tôi rất vui vì đã phát hiện ra chú khi chú đến vào giờ thứ mười một, nếu không Buster thân yêu sẽ đi ngủ với cái bụng đói.
18.
“Kissie Corn” và âm nhạc
Tất cả chúng đều coi cái mà tôi gọi là “Kissie Corn” một cách rất tự nhiên, coi đó là dấu hiệu của sự ưu ái đặc biệt. Nó bao gồm việc Bác sĩ đặt một hạt ngô vào giữa môi của mình, đưa nó theo kiểu này cho một cái mỏ đang chờ đợi. Tất cả chúng đều cạnh tranh với nhau để trở thành người được ưu ái, chen chúc trên đôi vai của Bác sĩ, vốn rộng rãi, có thể chứa được nhiều con cùng một lúc; và, từ vị trí thuận lợi hạnh phúc này, chúng nỗ lực để đạt được sự sang trọng đáng thèm muốn.
Tôi phải thừa nhận rằng có rất nhiều sự bất lịch sự và sự thiếu tinh thần hiệp sĩ giữa các đối thủ cạnh tranh, nhưng những chiếc mỏ nhỏ giơ lên một cách háo hức đã tạo nên một bức tranh đẹp. Tôi cũng thích màn trình diễn nhỏ vì lý do vệ sinh; Tôi sợ rằng đôi khi chúng ta có xu hướng cho chúng ăn quá nhiều. Đưa thức ăn cho nhiều ứng viên không lịch sự và không quan tâm đến nhau bằng một bàn tay đầy ắp sẽ dẫn đến tình trạng nuốt vội và hậu quả là khó tiêu.
Nhưng “Kassie Corn” được đưa ra từng mảnh một và xoay chuyển khi Bác sĩ cố gắng tỏ ra vô tư. Và giữa các khóa học, chúng được khuyến khích hát; vì chúng tôi có một số ca sĩ ở giữa chúng tôi. ‘Âm nhạc không hoàn toàn du dương mà mang hơi hướng thánh ca hoặc ca khúc đơn điệu; nhưng một số làm cho nó có giai điệu hơn những cái khác. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là những con cái không bao giờ hát; chỉ có những con chim đực, và chỉ có một vài con trong số chúng.
Bác sĩ đôi khi sẽ cầm một con chim bồ câu trên tay, nhảy múa lên xuống, hát đệm và con chim bồ câu sẽ đáp lại bằng bài hát nhỏ của chính mình. Tuy nhiên, điệu nhảy của chú thường diễn ra trong thời gian ngắn, một số đối thủ ghen tị đang vội vã thay thế chú.
Và thế là cuộc sống của chúng tiếp diễn ngày này qua ngày khác, ít có sự thay đổi; Tôi nghĩ rằng mang lại sự giải trí thú vị cho chúng tôi và hạnh phúc tột đỉnh cho chúng. Chúng tôi yêu chúng vì tình cảm và sự tận tâm mà chúng thể hiện đối với chúng tôi, để biết ơn sự quan tâm của chúng tôi. Và chúng tôi đánh giá cao sự khôn ngoan và phân biệt đối xử tuyệt vời của chúng trong việc không dễ dàng kết bạn.
Ngay cả đối với Mattie, chúng cũng thể hiện rất xa cách, trừ một vài ngoại lệ. Nhưng điều đó có thể tha thứ được, vì mặc dù cô ấy là một người bạn chân thành, luôn giữ cho Quảng trường và Sân chơi của chúng gọn gàng và sạch sẽ, nhưng chúng lại không hài lòng với sự xuất hiện của chổi quét và thùng đựng rác. Hậu quả là Mattie phải nhận rất nhiều lời “mắng” từ chúng khi hết giờ “vui chơi”.
Tuy nhiên, có một chú bồ câu nhỏ mà tôi gọi là “con bồ câu của Mattie”, nó rất cảm kích vì đã cứu nó khỏi bồn tắm vào một ngày nọ khi tôi ra ngoài. Anh chàng nhỏ bé dám nghĩ dám làm đi lang thang từ Quảng trường đến phòng khách, qua phòng ngủ, khi Mattie đang ở một khu vực khác của căn phòng, và rõ ràng là chú ta đã lạc lối.
Băng qua hành lang, Mattie bị thu hút bởi tiếng vỗ của đôi cánh, và lần theo âm thanh đó, phát hiện ra chú chim bồ câu nhỏ tội nghiệp đang sợ hãi ở dưới đáy bồn tắm trống rỗng. Khi còn rất trẻ, chú chim còn quá thiếu kinh nghiệm để thực hiện một chuyến bay hướng lên trên, và việc giải cứu gặp rất nhiều khó khăn, không đủ tin tưởng vào Mattie để giao phó bản thân vào tay cô; Tôi nghĩ cô ấy cũng sợ hãi như chú chim. Tuy nhiên, kể từ ngày đó, chú là “con cưng của Mattie” và thường xuyên ăn đồ từ tay cô ấy.
19.
Tình yêu và sự tin cậy chim bồ câu
Tôi không chỉ trích hay lên án những người ít quan tâm hơn tôi đến những sinh vật lông vũ hiền lành này. Không phải tất cả chúng ta đều có cấu tạo giống nhau, và tôi nhận ra một thực tế là đối với nhiều người, một con chim bồ câu non không bao giờ hấp dẫn bằng khi được phục vụ như một món nướng: rằng chim bồ câu là mối phiền toái. Tôi biết rằng chim bồ câu của tôi không phải là thiên thần, và là những sinh vật nhỏ bé rất vật chất, cũng không quan tâm đến sự nhạy cảm của con người chúng ta, nên có xu hướng trang trí bệ cửa sổ và gờ cửa sổ theo kiểu phi nghệ thuật nhất.
Nhưng chúng ta hãy xem xét câu tục ngữ của Pháp: “Il ne faut pas juger des gens par leurs défauts’ (“Chúng ta không nên đánh giá con người qua lỗi lầm của họ”); và đừng phán xét nhau qua những thiếu sót của chúng ta. Và tôi, người biết mình đang nói về cái gì, có thể làm chứng cho lòng trung thành và tình yêu của loài chim bồ câu dành cho ân nhân của chúng.
Một sinh vật nhỏ bé bị đau hay bị thương?—Nó nhanh chóng tìm đến Quảng trường để được thông cảm và giúp đỡ. Chú chim đã bị bắn à?—với dòng máu ấm chảy ra từ vết thương nhỏ của mình, nó vội vã đến nơi mà nó chắc chắn sẽ được an ủi. Dường như theo bản năng, nó biết rằng bông thấm nước và thuốc mỡ sát trùng, cùng với những bàn tay sẵn sàng phục vụ nó.
Và ngay cả trong lúc sợ hãi, chúng vẫn vội vã đến với chúng tôi. Pointie tội nghiệp nghĩ rằng ngày cuối cùng chắc chắn đã đến và nhanh chóng tìm nơi ẩn náu ở nơi chắc chắn sẽ được chào đón. Một trận tuyết dày rơi trong đêm, lấp lánh dưới ánh nắng ban mai trong trẻo. Pointie, trên hiên nhà nhỏ ngay phía trên chuồng chim bồ câu của mình, đang tụng kinh ca ngợi và biết ơn cuộc sống hạnh phúc của mình thì lo! một trận tuyết lở trắng mềm nhấn chìm thân hình nhỏ bé đầy tự tin của chú và ngẩng đầu kiêu hãnh.
Chú nghĩ có lẽ nó từ trên trời rơi xuống; trong khi đó chỉ là công việc thông thường của những người giúp việc dọn dẹp mái nhà. Tuy nhiên, bản năng tự bảo vệ của Pointie đã tiếp sức cho đôi cánh của chú khi chú lao nhanh đến Quảng trường. Cửa sổ mở nhưng rèm đăng ten đã được kéo ngang. Nhưng Pointie vẫn quyết tâm bước vào, cái mỏ đầy sinh lực của chú đã tách tấm rèm ra và trong chốc lát chú đã nằm trên sàn, di chuyển bồn chồn. Chúng tôi nói chuyện nhẹ nhàng với chú, nhưng chú bước qua chúng tôi vào hành lang và nhìn thấy cánh cửa tủ quần áo lớn đang mở, chọn nó làm nơi ẩn náu.
Tôi đi theo, nói một cách âu yếm và quỳ xuống gần chú, đưa tay ra, một lời mời mà chú luôn yêu thích. Với sự tự tin thường ngày, chú bước xuống tay tôi, nhưng phản đối việc được bế đến cửa sổ, lại vội vã đi đến tủ quần áo, dường như nghĩ rằng sự an toàn nằm trong bóng tối.
Để làm cho nó kém hấp dẫn hơn đối với chú, tôi bật đèn điện; và bằng nhiều cách dỗ dành đã thuyết phục được chú quay lại với tay tôi. Nhưng phải mất một thời gian tôi mới thuyết phục được chú rằng sẽ không có tổn hại gì xảy ra với chú trên Quảng trường cùng với những con chim bồ câu khác. Sau một thời gian, chú vượt qua nỗi sợ hãi và trở về tổ của mình.
Tôi thích thú biết bao khi được nhìn thấy bên trong chiếc chuồng chim bồ câu đó! Nó phải có tính cách rộng rãi, vì Pointie là cha của nhiều đứa trẻ, chủ yếu là sinh đôi, và tôi chưa bao giờ hân hạnh được dạy những đứa trẻ có văn hóa cao của chú ta cách ăn uống.
Một số chú chim con nhỏ bị cha mẹ bỏ lại trên Quảng trường và được Mattie mô tả là “chưa nở được một nửa”, mặc dù đói, nhưng thờ ơ nhìn thức ăn chim bồ câu trong tay tôi, không hiểu nó là gì, chơi với nó, dùng mỏ nhỏ của chúng quăng nó, rồi nhảy vào tay tôi, rúc xuống và dọn giường bằng những gì tôi định cho bữa sáng của chúng. Sau này, khi nhìn thấy những con chim bồ câu lớn hơn đến ăn, hạt ngũ cốc trong tay tôi trở thành niềm vui sâu sắc nhất đối với chúng.
Nhưng Pointies là những bậc cha mẹ rất tận tâm và tận tụy, nuôi dưỡng những đứa con nhỏ của chúng cho đến khi trưởng thành hoàn toàn và có khả năng tự chăm sóc bản thân. Do đó, tôi kết luận rằng ngôi nhà nhỏ của chúng đủ rộng để có thể chứa bốn con chim bồ câu cùng một lúc một cách thoải mái. Tôi có thể tưởng tượng nó là một dãy phòng chim bồ câu ấm cúng gồm nhiều phòng.
Và tổ chắc chắn là đặc điểm quan trọng nhất trong cuộc đời của chim bồ câu. Tôi chắc chắn rằng đó là trung tâm sự tồn tại của chúng: tất cả niềm vui và nỗi buồn của chúng đều được dệt nên ở đó.
Nhưng cuộc phiêu lưu trong tuyết của Pointie không gây cảm giác khó chịu như một vị khách nhỏ lúc nửa đêm mà chúng tôi đã gặp một lần vào mùa hè. Chúng tôi gọi cô là “Mopie”, cô chim ốm yếu này, bởi vì nó thích ngồi một mình cả ngày với thái độ suy ngẫm. Nó có vẻ không thích hoặc không thể ăn uống và ngày càng mất sức. Tôi cố dỗ dành nó uống một ít sữa, nhưng nó tỏ ra không thích điều đó, chỉ thích ngồi im dưới nắng cho đến khi con bồ câu cuối cùng rời khỏi Quảng trường, khi đó nó sẽ khởi hành qua Quảng trường.
Nhưng buổi tối mùa hè yên tĩnh này, chúng tôi ngạc nhiên khi thấy một cái bóng nhỏ lướt qua cửa sổ phía đông của chúng tôi, quanh góc quảng trường. Chúng tôi đã đưa nó vào, Mopie bé nhỏ tội nghiệp, bản năng của nó dường như cảnh báo rằng cuộc sống của nó đang xuống dốc, mong muốn cuối cùng được ở gần chúng tôi. Hoặc nếu không thì nó đến để tìm kiếm sự giải thoát, rõ ràng là nó mắc bệnh hen suyễn, thở hổn hển.
Chúng tôi đốt những viên kẹo hen suyễn gần nó, khi tôi ôm nó trong tay, và ngay sau đó nó tỏ ra nhẹ nhõm rõ rệt, nhưng không lâu. Với cái mỏ hé mở, tiếng thở hổn hển lại tiếp tục, mỗi tiếng thở hổn hển yếu hơn lần trước; và khi tôi ôm nó về phía làn gió mùa hè, nói với nó rằng nó là con chim bồ câu nhỏ thân yêu nhất của tôi, cái đầu nhỏ mềm rũ rơi xuống ngón tay tôi; và khi đồng hồ của chúng tôi điểm mười hai giờ, nỗi đau khổ của nó đã qua.
20.
Lòng biết ơn và nhân hậu của bồ câu
Trở về từ vùng quê một năm, chúng tôi tự hỏi con chim bồ câu nào sẽ là người đầu tiên chào đón chúng tôi. Hóa ra đó là một chú chim bồ câu nhỏ không tên, đã phát triển thành một con chim bồ câu trong thời gian chúng tôi vắng mặt. Là con đầu tiên phát hiện ra sự trở lại của chúng tôi, chúng tôi gọi chú là Christopher Columbus, rút ngắn nó thành Christy.
Tôi đã đặc biệt chú ý đến chú chim này vào một buổi sáng khi chú ở quảng trường một mình, đưa cho chú phần thực đơn chọn lọc nhất; và sau khi thỏa mãn cơn thèm ăn, chú bay qua Quảng trường, về nơi làm tổ của mình. Nhưng một lúc sau chú quay lại, trông rất tò mò khi đến gần vì vật chú mang theo trong tờ tiền; và chú đặt trước mặt tôi một chiếc kẹp tóc mới sáng màu! Chú nhìn thẳng vào mắt tôi khi tôi cảm ơn rồi ngay lập tức bay đi.
Làm sao tôi có thể hiểu được hành động đẹp đẽ này ngoại trừ một lời cảm ơn nho nhỏ!
Một số con chim bồ câu, đặc biệt là những con chim bồ câu có tính tình trìu mến, thể hiện một chút quyến rũ về tình yêu biết ơn của chúng, bằng cách dùng chiếc mỏ nhỏ của chúng tạo thành một đường vẽ nhẹ nhàng trên tay chúng tôi, rất gợi nhớ đến đường ren đẹp nhất. Chúng cũng trải qua một quá trình làm móng tay nhỏ, bao gồm những nụ hôn nhẹ nhàng nhất trên bàn tay và đầu ngón tay của chúng tôi, rất đáng yêu. Theo quy luật, chúng là những sinh vật nhỏ bé hiền lành, tất nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ.
Một chú chim nghiện quấy rối hàng xóm đến nỗi chúng tôi đặt tên cho chú là “Kẻ chiến đấu”. Tôi thậm chí không được miễn trừ khỏi sự yêu thích của chú, và điều đó thường quyến rũ tôi khi đặt mình vào thế phòng thủ, mặc dù tôi thường là kẻ gây hấn, thách thức chú bằng cách giật một chiếc lông vũ và hỏi:
“Mày có muốn chiến đấu với tao không?”
Và thái độ đe dọa và ánh mắt lóe sáng của chú gần như là một câu trả lời thốt ra:
“Ừ, tôi thích”
“Được rồi,” tôi nói, “tới đi, mặc dù tao rất sợ mày!” và trận chiến sẽ bắt đầu.
Để công bằng với bản thân, tôi sẽ đề cập rằng tôi luôn chiến đấu công bằng, bằng cách chỉ sử dụng một tay. Và để lương tâm dung hòa với hành vi đáng chê trách khi trêu chọc một con chim bồ câu nhỏ, tôi ghi nhớ sự thật là nó thà đánh nhau hơn là ăn.
Cúi người về phía trước, tôi sẽ kéo đuôi chú ta, điều mà chú coi là một sự xúc phạm khủng khiếp; và chú ta sẽ vồ lấy tay tôi và mổ tôi. Tôi sẽ lùi lại và nói với chú rằng tôi sợ chết khiếp, đồng thời kéo mỏ chú ta. Sau đó, chú ta tiến lên, dùng cánh vỗ mạnh vào tôi, và khi chú giơ lên, tôi sẽ cù chú ta; một sự xúc phạm còn tệ hơn cả việc kéo đuôi.
Nhưng trong chốc lát tôi sẽ rút tay lại và nói với chú rằng chú ta đã thắng trận.
“Và bây giờ chúng ta phải làm lành, vì chúng ta không thực sự tức giận, phải không? Chúng ta yêu nhau phải không? Chúng ta chỉ trêu chọc nhau thôi phải không? Và bây giờ chúng ta phải có một bữa tối thịnh soạn.”
Lúc này cơn giận của chú chim đã nguôi ngoai và chú sẽ đến gần tôi, rất quan tâm khi tôi đưa những chiếc hộp ra. Trước khi tôi lên tiếng lần nữa, cơn giận của chú đã hoàn toàn tan biến, ánh mắt dịu lại và toàn bộ thái độ trở nên dịu dàng như một chú bồ câu điển hình.
“Bây giờ, chúng ta sẽ ăn gì trước tiên? Một ít ngô nứt làm món khai vị? Cái đó có ngon không? Chúng ta sẽ dùng hạt gai dầu thú vị như một món khai vị nhé? Một số thức ăn cho chim bồ câu như món ăn kháng chiến? Và món ngô mới yêu thích của mày cho món tráng miệng? Bây giờ đó không phải là một bữa tối ngon miệng sao? À! mày rũ lông và đi đến đài phun nước để uống nước. Mày đã khát lắm rồi! Đừng đi vội; đến lấy một miếng ngô khác; đây, mày để nó trong tay tao. Đúng vậy! Sáng nay chúng ta đã có khoảng thời gian vui vẻ phải không? Tạm biệt!”
Nhưng một ngày nọ, bà Pointie đang thưởng thức một bữa trưa thịnh soạn trên thành chậu thì Fighter xuất hiện và tôi thách thức chú ta. Đôi mắt nhỏ của nó gần như lồi ra khỏi đầu khi nó nhìn thấy chú ta lao vào tôi, và tôi rút lui trong sự giả vờ sợ hãi. Nó lao từ vị trí của mình đến đầu bên kia của Quảng trường, nơi cuộc chiến đang diễn ra, và đứng trước bàn tay của tôi, hướng từng đòn một vào Fighter.
Có gì ngạc nhiên khi tôi cảm thấy một tình yêu mới dành cho nhà vô địch bé nhỏ của mình!
Trong suy nghĩ, tôi thường so sánh những con chim bồ câu của mình với những con chim xinh đẹp ở San Marco, Venice. Tôi rất vui khi được cho những chú chim bồ câu Venice ăn sau khi mua những túi ngô từ những người bán hàng. Tôi nghĩ chúng xinh đẹp và thuần hóa, và rất thích có chúng ở bên mình.
Nhưng chúng chưa bao giờ thu hút trái tim tôi như thế này, những con chim bồ câu New York của tôi đã làm, vì chúng gây ấn tượng với tôi là chúng được thuần hóa chỉ vì căng thẳng vì đói, trong khi những con chim bồ câu của chúng tôi yêu chúng tôi vì chính chúng tôi và vui mừng khi được ở gần chúng tôi ngay cả khi không có vấn đề gì về thức ăn. Nếu chúng đang phơi nắng ở cửa sổ này và nghe thấy giọng nói của chúng tôi ở cửa sổ khác, chúng lập tức chuyển chỗ ở để đến gần chúng tôi. Một số trong số chúng đã định vị được cửa sổ phòng thay đồ của tôi và thích nhìn vào tôi.
Một người đặc biệt, “Burnsy,” cháu của Winton, người được đặt tên thánh khi còn là một con chim non, đã bay vào cửa sổ và đậu trên bộ tản nhiệt khi nhiệt độ đã tăng cao. Tôi đang cho chim bồ câu ăn ở cửa sổ, khi quay lại thì phát hiện nó đang nhảy từ chân này sang chân kia, không đủ tỉnh táo để biết mình đang bị bỏng, khi tôi cứu nó. Tôi bôi kem lạnh lên bàn tay trái của mình, đổ đầy thức ăn cho chim bồ câu vào tay kia; và giả vờ như tôi đang đưa bữa sáng cho chú chim, đã thành công trong việc giữ chú đứng trong kem lạnh một thời gian.
Mặc dù Bác sĩ là người chú ta đặc biệt yêu thích nhưng chú cũng yêu tôi và rất quan tâm đến cái toilet của tôi mỗi sáng. Bây giờ chú đã là một con chim lớn, và thật thú vị khi thấy chú đứng kiễng chân lên, theo đúng nghĩa đen, để chạm tới một phần của tấm rèm ren mà qua đó chú ta có thể nhìn qua dễ dàng nhất, khi tôi ngồi trước tủ quần áo của mình. Tôi nói với bác sĩ rằng chú muốn biết chắc chắn tôi đang sử dụng loại kẹp tóc nào. Khi tôi phát hiện ra chú đang nhìn, tôi gọi chú:
“Không sao đâu, Burnsy; tao chắc chắn mày sẽ chấp nhận những chiếc kẹp tóc này!”
Chú là một trong những con chim bồ câu tình cảm nhất của chúng tôi, nhưng lại có tính cách hay ghen và nóng nảy. Tuy nhiên, lỗi duy nhất mà tôi phải tìm thấy ở chú ta là sự khắc nghiệt của chú đối với Nydia, chú chim bồ câu mù nhỏ của tôi.
Một năm nọ ở Naples, khi khám phá những kỳ quan của Pompeii, trong khi người đưa thư đang thảo luận về đồ cổ với thành viên khoa học trong gia đình tôi, bằng một ngôn ngữ mà tôi không thể học được, tôi đã lạc vào mê cung suy ngẫm về những cảnh trong tác phẩm tuyệt vời của Lord Lytton. Và tôi nghĩ nếu tôi có một con thú cưng bị mù thì tên của nó sẽ là Nydia. Chuyện đó đã xảy ra cách đây nhiều năm và chỉ gần đây tôi mới gặp bất hạnh khi sở hữu một con vật cưng có tên gọi phù hợp.
Một ngày nọ, nó đến Quảng trường, nhỏ và còn non, nhưng lớn hơn một con chim bồ câu con, tầm nhìn hoàn toàn biến mất khỏi một mắt. Tôi thực sự xấu hổ về sự tiếp đón mà nó nhận được từ những con chim bồ câu của tôi, trong nỗ lực hết mình của chúng để loại nó ra khỏi Quảng trường. Đối với “Câu lạc bộ Rendezvous” là một nhân vật độc quyền nhất, trên thực tế là một tập đoàn thân thiết, chỉ nhằm mục đích mang lại lợi ích cho các gia đình cũ của Quảng trường và con cháu của chúng.
Tuy nhiên, tôi gặp chút khó khăn khi truyền đạt cho Nydia sự thật rằng nó có một người bảo vệ trung thành và bàn tay của tôi luôn sẵn sàng nâng đỡ nó khỏi những kẻ hành hạ. Quyền lực của tôi được mọi người công nhận, Burnsy là đối tượng nổi loạn duy nhất của tôi. Chú ta tức giận khi thấy kẻ đột nhập này bị đối xử như một người lớn và “Mày có thấy ánh vàng tuyệt đẹp trên sông không, Burnsy? Đó là sự phản chiếu của mặt trời lặn. Hãy để nó không đi vào cơn thịnh nộ của mày! Nào, Burnsy thân yêu, chúng ta hãy chơi bài “Kissie Corn’!”
21.
Chương kết
Những giai thoại nhỏ này có thể kéo dài vô tận, biết bao sự cố xảy ra mỗi ngày.
Bây giờ chúng tôi có rất nhiều chim bồ câu và chim non ở cửa sổ, không có con nào giống nhau về tính cách, do đó góp phần tạo nên sự sống động cho Quảng trường. Chúng tôi thậm chí còn kết luận rằng chúng tôi có một số chim bồ câu nhỏ đáng yêu trong bầy chim bồ câu của mình, vì những con chim đực gặp khó khăn đáng kể trong việc thuyết phục bạn tình rằng tổ ấm là lãnh địa của chúng và đàn chim bồ câu đang bị bỏ rơi.
Nhưng những cô chim nhỏ tỏ ra khá thích thú với Quảng trường, từ chối được gửi đến chuồng chim bồ câu; và những con đực theo đuổi chúng, đưa ra những lời khiển trách để phản đối. Tôi suy luận rằng có một số nhiệm vụ làm tổ cần được thực hiện và bản năng của con chim đực tỏ ra rất nhạy bén về vấn đề này.
Tuy nhiên, chúng mang lại cho chúng tôi nhiều điều thú vị, đặc biệt là một cặp đôi dường như có quan điểm rất khác nhau về chủ đề này; cô chim nhỏ bướng bỉnh thường tìm nơi ẩn náu cuối cùng trong vòng tay của Bác sĩ, nơi người bạn đời của cô không theo đuổi cô, dường như nghĩ rằng cô được khuyến khích và bảo vệ trước hành động sai trái của mình.
Việc hồi tưởng lại khiến tôi ngạc nhiên về những con chim bồ câu, từng rất rụt rè và thận trọng. Vì tôi không có ý định thuần hóa chúng; Tôi chỉ mong được đối xử tốt với chúng, góp phần mang lại hạnh phúc cho chúng và làm cuộc sống nhỏ bé của chúng tươi sáng hơn; và sự tự tin và tình cảm của chúng thật tuyệt vời.
Tính đến nay đã bốn năm tôi và bồ câu thân thiết với nhau. Tôi nhanh chóng biết được rằng về nhiều mặt chúng rất giống con người và chúng ta cũng có phần giống chúng. Thật vậy, tôi nhớ đến một cặp vợ chồng khiến tôi rất nhớ đến loài chim bồ câu, trong sự tận tâm của họ dành cho nhau và cho cuộc sống gia đình nhỏ bé của họ, gần như loại trừ thế giới bên ngoài. Tôi thường cười khi gọi họ là “chim bồ câu”.
Tôi luôn có cảm giác tiếc nuối khi rời xa nhà, một thời gian, kẻo lũ chim bồ câu của chúng tôi phải đau khổ vì sự vắng mặt của chúng tôi; và tôi hoàn toàn đồng cảm với nhà thơ trong những vần thơ quyến rũ được xuất bản cách đây không lâu khi ông hát:
**Trong suốt thời gian qua trái tim tôi, Phần tốt đẹp hơn, ngọt ngào hơn trong tôi,
Đã khóc nức nở vì con chim cổ đỏ, Trên cánh đồng Ballyclare.”’
(2)
Long lanh ô cửa mùa xuân
Những cánh chim nhỏ dần, nhỏ dần trên nền trời của mùa Xuân. Bầu trời buổi chiều tà khi đã tắt nắng, có màu xám trắng. Đầu tháng Hai, khí lạnh vẫn còn vương vất, mà có thể cảm nhận rõ nhất vào lúc rạng sáng và lúc hoàng hôn buông. Trên mái nhà của tòa chung cư đối diện một đàn bồ câu đứng im lìm như thể chúng đã sẵn sàng cho giờ “lên chuồng” buổi tối.
Từ dưới đất, ngay chỗ quán hủ tiếu tỏa khói nghi ngút, một đàn chim bồ câu lao vút lên cao đến tận mái nhà nơi đồng bọn của chúng đứng lim dim. Đông quá, những con chim bồ câu vô gia cư, nhà của chúng là khoảng không vô tận nơi tầng thượng của các tòa nhà. Mùa Xuân, trời đầy nắng và hoàn toàn không có mưa to gió lớn, hóa ra lại là kiểu thời tiết lý tưởng với những chú chim có hoàn cảnh như này.
Hai con chim ăn vừng nhà mình, bay đi đâu đó một hai tiếng đã lại quay về. Chúng chọn chỗ đứng ở cái gờ tường đối diện cửa sổ bàn học của con mình. Từ đây mình nhìn ra, thấy rất rõ hai hình dáng bé nhỏ đứng sát bên nhau dưới ánh sáng đèn điện lờ mờ. Chim bồ câu đi đâu hình như chúng cũng có đôi. Bởi vậy cả đoàn chim mới đầu có thể là số lẻ nhưng chẳng bao lâu sau đã nhanh chóng chuyển sang chẵn.
Cũng như gà, bồ câu “đi ngủ” sớm. Và vì vậy chúng cũng dậy sớm. Khi những tia nắng ban mai mới bắt đầu hừng lên mình đã nghe tiếng chúng “gù gù” bên ngoài song cửa
Tia nắng từ đâu đến ở
Long lanh từng ô cửa, ô cửa mùa xuân
Không giống như câu chuyện thú vị mà các bạn vừa đọc “Những con chim bồ câu nơi cửa sổ nhà tôi”, những con chim bồ câu khu nhà mình không bao giờ đậu trên khung cửa sổ. Có thể cửa sổ chung cư khác thì khác với cửa sổ nhà thấp tầng, ở chỗ không có “bậu cửa”, để những đôi chân của những chú chim nhỏ bé đặt lên trên đó.
Nhưng đã là khung cửa thì dù ở loại nhà nào cũng đều có chức năng giống nhau. Nơi mà từ bên trong, chúng ta có thể quan sát một không gian rộng lớn hơn ở bên ngoài. Nơi mà từ bên ngoài, những tia nắng có thể rọi vào thắp sáng một không gian nhỏ hẹp hơn ở bên trong.
Mình thích những khung cửa hướng đông chỉ bởi những tia nắng dịu dàng đầu ngày. Đọc sách, viết lách, đan lát, thưởng trà hay làm bất kỳ công việc gì trong thứ ánh nắng ấy, trong khung cảnh ấy đều cho hiệu quả và sự nhập tâm hơn, đối với mình.
Vài năm gần đây, khi chủ yếu thời gian trong ngày mình ở trong nhà, nội trợ và làm những công việc chỉ có một mình, mình gần như đã có thể nhận biết được thời gian tương đối chính xác chỉ dựa trên “dòng chảy” của những tia nắng xuyên qua cửa sổ. Nên nếu đồng hồ chẳng may ngừng chạy, điện thoại chẳng may hết pin thì vẫn có thể đoán được giờ, ví như để đi đón con mà không bị trễ.
Con sắp đến tuổi trưởng thành, chẳng mấy mà có cuộc sống của riêng mình, lúc đó không gian bên ngoài của khung cửa sổ với mình sẽ đa dạng hơn. Có thể một năm, một vài tháng mình sẽ ngồi bên khung cửa sổ ở nhà mẹ, nơi căn phòng của mình trên tầng hai nhìn ra cánh đồng và cả vườn cây tốt tươi; hoặc một vài tháng bên khung cửa của một ngôi nhà ở một làng quê nào đó, đồng bằng, trung du hay miền biển. Có thể là như thế, là đi và ghi.
Tự do như những con chim sải cánh trên bầu trời bao la!
Mình cũng thích những khung cửa sổ trên những phương tiện vận chuyển. Những khung cửa luôn khiến chuyến hành trình như được rút ngắn. Qua những khung cửa sổ ô tô, những căn nhà lụp xụp ven đường có vẻ như bớt tiều tụy. Qua những khung cửa sổ tàu hỏa, những đồi cát rộng lớn dường như bớt mênh mông. Qua những khung cửa sổ máy bay, những đám mây cao vời vợi có vẻ bớt xa tầm với. Và qua những khung cửa sổ tàu điện, ánh sáng và bóng tối dường như gần nhau hơn bao giờ hết.
Bạn còn có thể thích những khung cửa sổ ở đâu nữa ? Mình gợi ý nhé, trong các bản nhạc ấy. Khung cửa sổ thơ mộng luôn là địa điểm được các nhạc sĩ yêu thích để dệt lên những bản tình ca. Đặc biệt là những bản tình ca vào mùa Xuân tươi đẹp
Cao cao bên cửa sổ
Câu tiếp theo của bài hát “Mùa xuân bên cửa sổ” này bạn có nhớ không ? Tết năm ngoái khi mình mở bài hát này, một bài hát luôn vang lên mỗi dịp Xuân về ở thập niên 80, 90, con gái mình nghe được, nó buông một câu “Con không ngờ các cụ ngày xưa lại bạo dạn thế” :)).
Chuyện, mùa xuân mà con. Cứ để các cụ “xõa” đi. Các cụ mà nhiều chữ thì chỉ bạo dạn trên giấy thôi, chứ ở ngoài họ nhát chết đi được :))
Mình đoán mò thế chứ cả đời đã được tiếp xúc với cụ “nhiều chữ” nào :)). Nên chả biết con gái mình có tin không, chỉ thấy nàng lẩm bẩm:
Chim ơi đừng bay nhé hoa ơi hãy tỏa hương
Và cây ơi lay thật khẽ cho đôi bạn trẻ đón xuân về.
Lúc đó mình nhìn ra ngoài khung cửa, đã thấy đôi chim bồ câu bay đi mất rồi!